Chương I. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý luận về vai trò của công nghệ đối với tác động của FDI lên chất lượng môi trường. Chương III: Tổng quan về FDI, chất lượng môi trường và phát triển công nghệ tại Đông Nam Á 25 Chương IV: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu về vai trò của công nghệ đối với tác động của FDI lên chất lượng môi trường tại Đông Nam Á. Chương V: Định hướng tổng thể, các chính sách, giải pháp và điều kiện cụ thể để nâng cao chỉ số công nghệ và phát huy vai trò cải thiện tác động của FDI lên chất lượng môi trường tại Đông Nam Á 26 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI ẢNH HƯỞNG FDI LÊN CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG 2.
Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 2. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (1996) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) với quyền quản lý tài sản đó”. Khái niệm này nhấn mạnh rằng FDI là một tài sản. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong trường hợp này, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty". Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (1948/2009, Benchmark Definition of FDI, trang 100), “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư qua biên giới, được thực hiện bởi một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) với mục đích thiết lập lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp) cư trú tại một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư.” Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc UNCTAD (1996) xác định, FDI là “một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nước khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế sở tại”.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài (1996) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định”. Theo Luật Đầu tư năm 2005 (tại Điều 3), “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, “Đầu tư nước ngoài là 27 việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”. Trên thực tế, có nhiều cách khác để các nhà đầu tư nước ngoài có thể ảnh hưởng tới quyết định quản lý của doanh nghiệp như: Hợp đồng quản lý, Hợp đồng thầu phụ, Thỏa thuận chìa khóa trao tay, Nhượng quyền (Franchising), Thuê mua, Cấp giấy phép (Licensing). Các hình thức này không được coi là FDI vì nó không đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định.
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Với mục tiêu là lợi nhuận, trong đó người sở hữu vốn (cổ phần tại doanh nghiệp nhận đầu tư) trực tiếp điều hành các hoạt động tại doanh nghiệp nhận đầu tư. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Phân loại FDI căn cứ theo liên kết đầu tư - FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI): hoạt động đầu tư nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất ở nước mình.
Nhà đầu tư thường sử dụng vốn đầu tư vào các công ty trong cùng ngành công nghiệp hay chính là các đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, Công ty Samsung Electronics của Hàn Quốc đầu tư vào một nhà máy sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam, vì họ muốn mở rộng quy mô sản xuất điện thoại di động của mình ở khu vực Đông Nam Á. - FDI theo chiều dọc (Vertical FDI): hình thức đầu tư được thực hiện trong chuỗi cung ứng hay các khâu khác nhau trong cùng một ngành công nghiệp. Đầu tư lùi về phía cung cấp đầu vào cho sản xuất, còn gọi là backward vertical FDI hoặc tiến về phía thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra hay còn gọi là forward vertical FDI.
Một ví dụ điển hình, Công ty sản xuất ô tô Toyota đầu tư vào một công ty bán lẻ ô tô ở Việt Nam để phân phối, tiếp thị, bán hàng các sản phẩm ô tô của Toyota. Vì doanh nghiệp đầu tư vào một doanh nghiệp khác để phân phối, tiếp thị, bán hàng sản phẩm của doanh nghiệp chính, loại hình FDI này được gọi là hội nhập xuôi theo chiều dọc. - FDI hỗn hợp (Conglomerate FDI): đầu tư vào một ngành hoàn toàn khác so với ngành mà chủ đầu tư đang hoạt động trước đó, ví dụ Tập đoàn Coca-Cola của Mỹ đầu 28 tư vào nhà máy sản xuất nước giải khát tại Việt Nam. Nhà máy này được xây dựng để sản xuất nước giải khát cho thị trường Việt Nam và xuất khẩu sang các nước khác.
Phân loại FDI căn cứ theo cách thức thực hiện đầu tư - Đầu tư mới (Greenfield Investment): hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh tồn tại. Nhà đầu tư thường mua một mảnh đất trống, xây dựng nhà máy sản xuất, chi nhánh marketing, hoặc các cơ sở khác để phục vụ cho mục đích sử dụng của mình. - Mua lại và sáp nhập (Merger and Acquisition): còn gọi là mua lại và sáp nhập qua biên giới (Cross-border Merger and Acquisition), nhằm phân biệt với hình thức M&A được thực hiện giữa các doanh nghiệp nội địa. Theo OECD, hoạt động mua bán và sáp nhập xuyên biên giới (M&As), tức là hoạt động diễn ra giữa các công ty có nguồn gốc quốc gia khác nhau hoặc quốc gia sở tại.
Việc sáp nhập và mua lại, được định nghĩa một cách chặt chẽ, xảy ra khi một doanh nghiệp đang hoạt động có được quyền kiểm soát toàn bộ hoặc một phần công việc kinh doanh của một doanh nghiệp tại quốc gia khác. Mặc dù các hoạt động M&A đã có từ lâu nhưng mục tiêu chính vẫn là hướng tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đến năm 1990, M&A mới thực sự bùng nổ với những vụ sáp nhập giữa các công ty đa quốc gia. Một vài ví dụ về M&A nổi bật trên thế giới có thể kể đến như: Thương vụ ABN Amro sáp nhập với Barclays PLC trị giá 91 tỷ USD trong khối ngành ngân hàng; trong ngành công nghệ tập đoàn, Antel sáp nhập với TPG Capital và Goldman Sachs trị giá 27,5 tỷ USD, và thương vụ M&A Volkswagen – Porsche trong khối ngành ô tô,.
Phân loại FDI căn cứ vào tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI theo hình thức thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Như vậy, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn của nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam và do các nhà đầu tư nước ngoài nắm quyền quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. - Hợp tác kinh doanh trên cơ sở đồng hợp tác kinh doanh (BCC) là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài hoặc các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 27 của Luật Đầu tư 29 2020. Theo đó hợp đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
Theo hình thức đầu tư này nhà đầu tư nước ngoài là người cung cấp phần lớn hoặc toàn bộ nguồn vốn đầu tư. Bên nhận đầu tư sẽ đóng góp đất đai, nhà xưởng hoặc có thể góp một phần vốn. Đây là hình thức đơn giản nhất do không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà. - FDI theo hình thức liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh (JVC) là hợp đồng liên doanh có sự ký kết của một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước với một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài, hệ quả là một doanh nghiệp liên doanh ra đời.
Việc giao kết hợp đồng liên doanh dẫn đến việc thành lập một pháp nhân mới theo quy định của Luật doanh nghiệp Việt Nam; nên bên cạnh những nội dung tương tự hợp đồng BCC, hợp đồng liên doanh còn có các nội dung thỏa thuận về loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực, ngành nghề và phạm vi kinh doanh, vốn điều lệ, phần vốn góp của mỗi bên, phương thức, tiến độ góp vốn điều lệ, điều kiện chấm dứt hoạt động, giải thể doanh nghiệp. Phân loại FDI căn cứ vào lĩnh vực đầu tư Hình thức phân loại này được sử dụng phổ biến trong trường hợp các nước tiếp nhận đầu tư là các nước đang phát triển, bao gồm: - Thứ nhất, FDI hướng vào các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên như dầu lửa, khoáng sản, sản xuất nông nghiệp, ví dụ như liên doanh dầu khí Vietsovpetro.