phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách, công nghệ và chuyển giao công nghệ. Chƣơng 2: Thực trạng chuyển giao công nghệ trong ngành Thủy sản An Giang giai đoạn 2004 – 2008. Chƣơng 3: Đánh giá tác động và đề xuất các giải pháp 10 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH, CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1.
Chính sách 1. Khái niệm chính sách Tùy theo cách tiếp cận mà các Tác giả đưa ra các khái niệm về chính sách khác nhau, mỗi cách tiếp cận giúp người chuẩn bị quyết định chính sách một hướng tư duy. Tuy nhiên, khi tổng hợp về tất cả các cách tiếp cận, PGS. Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [5, tr.
Như vậy, nói về một quyết định chính sách người quản lý có thể hiểu như sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thể là một biện pháp khuyến khích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng các đạo Luật; Pháp lệnh; Sắc lệnh; các văn bán dưới luật như: Nghị định, Thông tư, Chỉ thị của Chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học). - Chính sách phải tác động hướng vào động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội.
Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Các loại tác động của chính sách Tác động dƣơng tính của chính sách (tác động tích cực) Tác động dương tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách. Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới. Tuy nhiên, sau khi thực hiện một chính sách, không phải khi nào cũng có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính.
Tác động âm tính xuất hiện là một yếu tố khách quan, vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách. Tác động âm tính của chính sách (tác động tiêu cực) Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách. Tác động ngoại biên của chính sách - Tác động ngoại biên của chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự kiến của cơ quan ban hành và cơ quan thực hiện chính sách. - Trong tác động ngoại biên, có thể xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính.
- Tác động ngoại biên dương tính, là loại tác động ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách. - Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm thiểu hiệu quả của chính sách. Phạm vi ảnh hưởng của chính sách Một chính sách có phạm vi ảnh hưởng rất khác nhau. Có ảnh hưởng ngắn hạn; có ảnh hưởng trung hạn và cũng có những ảnh hưởng rất dài hạn.
Khái niệm về công nghệ: Có rất nhiều tác giả đưa ra định nghĩa khác nhau về công nghệ, tuy nhiên, việc định nghĩa về công nghệ lại tùy thuộc vào kinh nghiệm của tác giả và hoàn cảnh sản xuất ở mỗi nước mà họ đưa ra các định nghĩa khác nhau. Ở các nước phát triển - nơi giao dịch mua bán công nghệ dưới dạng mua bán sáng chế, hợp đồng li-xăng là chủ yếu thì họ coi bản chất của công nghệ là “kiến thức”, coi công nghệ thuần túy là “phần mềm”. Trong khi đó ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cho thấy giai đoạn đầu của quá trình phát triển, việc thu nạp công nghệ qua các hình thức mua bán sáng chế, mua bán li-xăng là chưa nhiều và còn chiếm tỷ lệ rất thấp so với hình thức mua sắm máy móc, thiết bị hoặc hệ thống dây chuyền thiết bị. Vì vậy, một phần quan trọng của tri thức công nghệ lại được thu nạp thông qua mua sắm máy móc, thiết bị và tích lũy kiến thức khi vận hành các máy móc, thiết bị đó [1, tr.
- Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2000 đã đưa ra định nghĩa khái quát: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. - Luật Chuyển giao Công nghệ của Việt Nam (2006) đã đưa ra định nghĩa: “công nghệ là giải pháp, bí quyết, quy trình kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Cũng theo Luật Chuyển giao công nghệ Việt Nam (2006) thì máy móc, thiết bị chỉ được xem là công nghệ khi cơ sở/doanh nghiệp nhận chuyển giao lần đầu và đi kèm với những tài liệu về kiến thức vận hành, sữa chữa … còn những lần sau nếu cơ sở/doanh nghiệp phải tiếp tục mua thêm máy móc thiết bị cùng loại để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất thì những máy móc, thiết bị này không được xem là công nghệ. Công nghệ sạch Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát thải ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền vững.
Đối với các quá trình sản xuất, công nghệ sạch nhằm giảm thiểu các tác động môi trường và an toàn của các sản phẩm trong suốt quá trình sản xuất, bảo toàn nguyên liệu, nước, năng lượng, loại bỏ các nguyên liệu độc hại, nguy hiểm, giảm độc tính của các khí thải, chất thải ngay từ khâu đầu của quy trình sản xuất. Tuy nhiên khái niệm công nghệ sạch sẽ thay đổi theo thời gian, nó có thể là công nghệ sạch ở thời điểm này, nhưng lại là công nghệ bình thường hay công nghệ bẩn trong tương lai, khi có nhiều công nghệ tiên tiến hơn ra đời. Đặc điểm của công nghệ Bất kỳ một công nghệ nào cũng có 5 đặc điểm cơ bản là: - Công nghệ là khoa học “làm” (tức là hệ thống tri thức về các giải pháp hành động). - Công nghệ hoạt động lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm.
- Công nghệ tồn tại theo chu kỳ, phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm. Tồn tại và phát triển qua các giai đoạn: Ra đời – Phát triển – Làm chủ thị trường – Bão hòa – Suy giảm và tiêu vong. - Sản phẩm của công nghệ được xác định trước theo thiết kế. - Hoạt động công nghệ mang tính tin cậy cao, trên cơ sở một quy trình đã được nhà chế tạo chuẩn hóa và được người sản xuất làm chủ.
Công nghệ trong ngành thủy sản 1. Công nghệ nuôi trồng - Công nghệ trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) chủ yếu là quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện. Công nghệ có 14 z tính lặp lại theo chu kỳ sản xuất và thường được hoàn thiện dần cùng với sự tích lũy kinh nghiệm trong quá trình sản xuất. - Cùng một đối tượng nuôi, nhưng ở những loại hình nuôi khác nhau , điều kiện tự nhiên khác nhau (nuôi ao hầm, nuôi đăng quầng, nuôi bè) thì công nghệ nuôi cũng khác nhau.
Công nghệ chế biến thủy sản đông lạnh Công nghệ sử dụng trong chế biến thủy sản đông lạnh chủ yếu là bí quyết, quy trình, dây chuyền máy móc thiết bị và tài liệu hướng dẫn vận hành các máy móc, thiết bị đó. Vì vậy, một phần quan trọng của tri thức công nghệ là được thu nạp thông qua mua sắm máy móc, thiết bị và tích lũy kiến thức khi vận hành các máy móc, thiết bị đó. Tuy nhiên, công nghệ chế biến thủy sản đông lạnh của tỉnh hiện nay vẫn còn nhiều công đoạn phải thực hiện thủ công, chỉ sử dụng một số máy móc thiết bị ở những công đoạn như lạng da cá sau khi đã qua công đoạn fillet, quy trình cấp đông, đóng gói, bảo quản (đối với sản phẩm đông lạnh), và một số công đoạn trong chế biến các mặt hàng giá trị gia tăng như Patê từ phụ phẩm cá tra, xúch xích các loại cá… Đặc điểm công nghệ chế biến thủy sản là sử dụng rất nhiều điện và nước phục vụ cho hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất từ khâu xử lý làm sạch nguyên liệu cho đến sơ chế, chế biến, cấp đông, trữ đông,. nước thải của các nhà máy chế biến thủy sản chứa hàm lượng hữu cơ và mật độ vi sinh đặc biệt là coliform rất cao do các chất thải từ chế biến thủy sản phần lớn có hàm lượng Protein, lipit cao là môi trường tốt cho sinh vật phát triển đặc biệt là trong điều kiện nóng ẩm như ở ĐBSCL.
Chuyển giao công nghệ 1. Khái niệm chuyển giao công nghệ Theo Luật Chuyển giao Công nghệ, năm 2006: “Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”. 15 z - Chuyển giao công nghệ có thể tại Việt Nam, từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài. - Hoạt động chuyển giao công nghệ bao gồm: chuyển giao công nghệ và dịch vụ chuyển giao công nghệ.
Dịch vụ chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ. Đặc điểm của chuyển giao công nghệ - Xét về yếu tố thương mại: chuyển giao công nghệ có thể là hoạt động có thanh toán (thương mại) hoặc không thanh toán (phi thương mại). - Xét về yếu tố pháp lý: chuyển giao công nghệ là một hoạt động nhằm chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền sử dụng một công nghệ từ chủ thể này sang chủ thể khác, trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được thỏa thuận, phù hợp với các quy định của pháp luật. Bên chuyển giao có nhiệm vụ chuyển giao công nghệ có kèm hoặc không kèm máy móc, thiết bị, dịch vụ cho bên nhận chuyển giao.