Chương 1: Giới thiệu. Nội dung của chương trình bày tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu của luận án, các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được, các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu. Đồng thời, nội dung của chương này còn trình bày cấu trúc của luận án, một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn và điểm mới cũng như một số hạn chế của luận án. Chương 2: Tổng quan tài liệu.
Nội dung của chương 2 gồm có một số nội dung chính được trình bày như: Khái quát về hoạt động khai thác thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long, tổng quan các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu, nó cung cấp những thông tin cơ bản về lĩnh vực nghiên cứu và khái quát các công trình nghiên cứu liên quan. Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu này trình bày một cách tổng thể cơ sở lý luận, các khái niệm, đánh giá lý thuyết về hiệu quả trong khai thác thủy sản. Trên cơ sở lý thuyết và lý luận, phương pháp nghiên cứu của luận án này được xây dựng nhằm đáp ứng với mục tiêu và nội dung nghiên cứu đề ra.
Chương 4: Kết quả và thảo luận. Nội dung chương 4 bao gồm các nội dung sau: (1) Nghiên cứu mô tả hiện trạng khai thác của nghề lưới kéo ở Đồng bằng sông Cửu Long; (2) Tình hình tiêu thụ và phân phối của sản phẩm thủy sản khai thác ở ĐBSCL; (3) Hiện trạng quản lý của nghề lưới kéo ở ĐBSCL; (4) Phân tích hiệu quả sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nghề lưới kéo ở ĐBSCL; và (5) Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, quản lý và tiêu thụ sản phẩm thủy sản của nghề lưới kéo ở ĐBSCL. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Nội dung chương 5 được tác giả trình bày kết luận về các kết quả đạt được của nghiên cứu theo mục tiêu và nội dung nghiên cứu đã đặt ra.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những hạn chế của nội dung nghiên cứu, tác giả kiến nghị những định hướng nghiên cứu trong tương lai trong lĩnh vực khai thác thuỷ sản ở ĐBSCL.6 Đóng góp của luận án Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, thực trạng khai thác, tiêu thụ sản phẩm thủy sản và kết quả nghiên cứu thực nghiệm, kết quả luận án có một số đóng góp cho thực tiễn và khoa học như sau: Nghiên cứu mô tả thực trạng hoạt động khai thác, tình hình tiêu thụ và kênh phân phối sản phẩm của nghề lưới kéo ở ĐBSCL. Từ đó góp phần cung cấp và bổ sung thông tin liên quan cho nhà quản lý và ngư dân. Đồng thời, thực trạng khai thác thủy sản này góp phần bổ sung thông tin về nguồn tài liệu tham khảo cho đào tạo giáo dục. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thông tin sự kém TE và CE trong KTTS là một phần do sự phối hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình khai thác.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng xác định các yếu về đặc điểm tàu, ngư cụ và kinh tế- xã hội của ngư dân tác động sự kém hiệu quả sản xuất. Từ đây, ngư dân nắm được hiện trạng phối hợp sử dụng các yếu tố sản xuất nhằm góp phần cho ngư dân điều chỉnh và định hướng KTTS đạt hiệu quả tối ưu. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu là cơ sở vận dụng xây dựng chính sách trong việc quản lý phát triển ngành khai thác thủy sản trên địa bàn nghiên cứu. Luận án áp dụng phương pháp ước lượng tham số, với phương pháp ước lượng biên ngẫu nhiên để đo lường TE và CE cũng như phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TE và CE trong KTTS.
Phương pháp ước lượng tham số được nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và khai thác thủy sản nói riêng thực hiện. Nghiên cứu này ứng dụng kỹ thuật ước lượng đồng thời giữa hàm sản xuất và hàm phi hiệu quả nhằm để đạt được các ước lượng vững. Ngoài ra, luận án còn tính toán hiệu suất quy mô của hoạt động khai thác thủy sản của ngư dân làm nghề lưới kéo đơn. Luận án góp phần làm giàu phương pháp đo lường hiệu quả sản xuất trong hoạt động KTTS với nhiều đầu ra sản phẩm.
Cụ thể là phương pháp ước lượng hiệu quả kỹ thuật với biến đầu ra là doanh thu và sản lượng tổng hợp dựa trên tỷ trọng doanh thu các loài và nhóm loài thủy sản đóng góp. Ngoài ra, tác giả đã ứng dụng phương pháp hồi quy logigit thứ bậc (Ordered logistic regression) cho các nhân tố tác động đến chỉ số phi hiệu quả kỹ thuật và chi phí. Từ đó tác giả xác định được xác suất hiệu quả của từng nhóm, góp phần đưa ra kiến nghị cho ngư dân nâng cao hiệu quả KTTS. Địa bàn nghiên cứu là bốn tỉnh ven biển là Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, đây là vùng có hoạt động khai thác thủy sản trọng điểm và trong định hướng phát triển kinh tế biển.
Do đó, cần có nhiều nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển ngành khai thác thủy sản trong thời gian tới.7 Hạn chế của luận án Nghiên cứu đã phân tích được thực trạng, hiệu quả sản xuất, các yếu tố tác động đến hiệu quả sản xuất và tình hình tiêu thụ sản phẩm thủy sản khai thác của nghề lưới kéo ở ĐBSCL. Tuy nhiên, nghiên cứu còn một số hạn chế như sau: 8 - Giá sản phẩm thủy sản khai thác được giả định là ổn định trong thời gian nghiên cứu, tức là doanh thu hoạt động khai thác của ngư dân phần lớn phụ thuộc vào sản lượng thủy sản khai thác. Tuy nhiên, giá cả sản phẩm biến động rất lớn giữa các chuyến biển, vùng nghiên cứu và mùa vụ khai thác, nhưng nghiên cứu này chưa được đo lường đầy đủ. Do vậy, kết quả nghiên cứu có thể giải thích tốt trong điệu kiện được giả định trên.
- Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích hiệu quả sự phối hợp các yếu tố đầu vào trong khai thác của ngư dân. Trong khi đó, nguồn lợi thủy sản là nguồn lợi tự nhiên nên hiệu quả khai thác của ngư dân còn phụ thuộc vào yếu tố trữ lượng NLTS. Tức là phân tích về mặt sinh học chưa được quan tâm bởi yêu cầu số liệu phải có các thông số về mặt sinh học của các loài cá cũng như số liệu theo thời gian (tháng, quý, năm). Hơn nữa, số liệu của nghiên cứu là số liệu sử dụng các giá trị bình quân và dựa vào ước đoán của người phỏng vấn nên có thể ảnh hưởng đến kết quả.
- Hoạt động khai thác thủy sản của ngư dân rất đa dạng về ngư cụ và ngư trường khai thác, nhưng nghiên cứu chỉ tập trung các tàu lưới kéo đơn với chiều dài tàu từ 6m đến dưới 15 m ở ngư trường khai thác vùng ven bờ và vùng lộng. 9 Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chương 2 mô tả các nội dung chính sau: (1) khái quát tổng quát các đặc điểm về hoạt động khai thác thủy sản ở ĐBSCL thông qua các chỉ tiêu như là quy mô khai thác, nghề khai thác, ngư trường, mùa vụ cũng như sản lượng thủy sản khai thác; (2) tổng hợp các tài liệu liên quan đến hiệu quả sản xuất trong KTTS bao gồm hiệu quả về chi phí và tài chính; hiệu quả kỹ thuật và kinh tế trong hoạt động khai thác thủy sản cũng như thống kê các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất trong KTTS, và (3) khái quát về tình hình tiêu thụ và phân phối sản phẩm thủy sản khai thác.1 Hiện trạng khai thác thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long 2.1 Qui mô khai thác thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện thuận lợi về điều kiện tự nhiên trong hoạt động khai thác thủy sản. Sản lượng thủy sản khai thác của vùng thời gian qua không ngừng gia tăng, đóng góp khoảng 41% sản lượng thủy sản khai thác của Việt Nam. Năm 2021, số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản là 21.331 tàu, song với đó nhiều địa phương trong vùng đã đầu tư xây dựng trên 20 cảng cá, bến cá và hằng trăm cơ sở đóng sửa tàu thuyền cùng với các chợ và vựa thu mua thủy sản (Tổng cục Thống kê, 2022).
Trong đó, đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 10.355 tàu đánh cá xa bờ, chiếm khoảng 48,5% số lượng tàu đánh bắt. Điều này có thể nói là qui mô KTTS ở ĐBSCL thuộc qui mô vừa và nhỏ, khoảng 51,5% số tàu đánh cá có qui mô nhỏ và khai thác ven bờ. Tuy nhiên, số lượng tàu đánh cá xa bờ có phát triển trong những năm qua nhưng tỉ lệ còn hạn chế. Tỷ trọng phát triển số lượng tàu khai thác xa bờ tăng bình quân 2,3%/năm trong giai đoạn 2015-2021 (Tổng Cục Thống kê, 2022).1: Số lượng tàu khai thác thủy sản ở ĐBSCL (Đơn vị tính: tàu) Năm 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 Tiền Giang 1.054 984 959 953 975 949 896 Sóc Trăng 958 903 939 992 974 881 890 Bạc Liêu 1.331 (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2022) Đồng bằng sông Cửu Long có tám tỉnh ven biển đóng vai trò quan trọng phát triển kinh tế biển của vùng, trong đó tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Sóc Trăng là những tỉnh phát triển mạnh về khai thác biển và là ngành phát triển kinh tế mũi 10 nhọn.
Tổng số lượng tàu khai thác thủy sản của tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Sóc Trăng chiếm khoảng 75% tổng lượng tàu khai thác và 65% tổng sản lượng thủy sản khai thác của toàn vùng. Chính vì thế việc quản lý và phát triển nguồn lợi thủy sản ổn định là một trong những mục tiêu quan trọng để quản lý nghề cá ở các tỉnh ven biển thuộc ĐBSCL này. Ngư trường khai thác thủy sản ở ĐBSCL ở cả vùng ven bờ, vùng lộng (hai vùng này được gọi chung là vùng ven bờ) và vùng khơi (xa bờ). Giai đoạn 2015-2021, số lượng vùng khai thác thủy sản ven bờ có xu hướng giảm, được thay thế có số lượng tàu khai thác vùng xa bờ (Hình 2.
Tỷ trọng giảm và tăng của số lượng tàu khai thác thủy sản ở hai vùng khai thác là 2%/năm và 2,3%/năm tương ứng (Tổng cục Thống kê, 2022). Tỷ lệ phần trăm số lượng tàu khai thác vùng ven bờ chiếm khoảng 60% năm 2015, giảm còn 51% vào năm 2021, đây là hiệu quả tích cực của chiến lược chính sách phát triển ngành, giảm số lượng tàu khai thác ven bờ, đặc biệt là các ngư cụ khai thác không thân thiện với môi trường.