Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 9 34 04 03) với đề tài "Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long" được nghiên cứu sinh Trần Thị Vành Khuyên thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia vào năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Chi Mai và TS. Hà Quang Thanh.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với cơ cấu kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Trong tổng số hơn 47 triệu lao động của cả nước, có gần 70% lao động làm việc tại khu vực nông thôn và tỷ lệ lao động tham gia lĩnh vực nông nghiệp chiếm 51%. Mặc dù lực lượng này chiếm đa số nhưng chất lượng nguồn nhân lực lại rất hạn chế. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm trên thang điểm 10, xếp thứ 11 trong số 12 quốc gia châu Á được khảo sát; chỉ số kinh tế tri thức (KEI) chỉ đạt 3,02 điểm, đứng thứ 102 trên tổng số 133 quốc gia. Nhằm giải quyết yêu cầu phát triển, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã xác định giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt. Thể chế hóa chủ trương này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020". Sau gần 10 năm triển khai trên toàn quốc, chính sách đã hỗ trợ đào tạo nghề cho hơn 1 triệu lao động nông thôn, với tỷ lệ có việc làm mới hoặc tiếp tục nghề cũ nhưng năng suất cao hơn đạt khoảng 80%.
Tuy nhiên, tại vùng đồng bằng sông Cửu Long – khu vực vốn được xem là "vùng trũng" về chất lượng nguồn nhân lực – quá trình thực hiện chính sách còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Theo kết quả điều tra của tổ chức Oxfam và Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), có khoảng 1/3 số lớp đào tạo nghề được đánh giá hiệu quả thấp; chỉ gần 1/3 số người học có việc làm mới, phần còn lại vẫn tiếp tục công việc cũ; tỷ lệ lao động nông thôn sau đào tạo thuộc diện thoát nghèo chỉ chiếm 4-5%, thậm chí có tỉnh như Trà Vinh chỉ đạt 0,5%. Luận án được xây dựng nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực hiện chính sách tại khu vực này để tìm ra các giải pháp khắc phục.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đào tạo nghề (ĐTN) cho lao động nông thôn (LĐNT) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ đó đề xuất các giải pháp khoa học nhằm hoàn thiện công tác này, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về những vấn đề liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu cơ sở khoa học về thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT, tập trung vào khung lý thuyết quy trình thực hiện chính sách, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng và bài học kinh nghiệm trong nước, quốc tế.
- Khảo sát, thu thập và tổng hợp thông tin để phân tích thực trạng tổ chức thực hiện chính sách ở ĐBSCL; đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế.
- Xây dựng các giải pháp khoa học nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT tại vùng ĐBSCL trong thời gian tới.
Luận án đặt ra 2 câu hỏi nghiên cứu:
- Tại sao việc thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT hiện nay ở vùng ĐBSCL chưa đạt mục tiêu như mong đợi?
- Cần làm gì để nâng cao kết quả và hiệu quả thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới?
Đồng thời, đề tài kiểm chứng 2 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Việc thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT tại ĐBSCL hiện nay chưa đạt kết quả như mong đợi.
- Giả thuyết 2: Triển khai tốt các bước trong quy trình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT sẽ góp phần nâng cao kết quả và hiệu quả chính sách này ở vùng ĐBSCL.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT ở các địa phương vùng ĐBSCL.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại vùng ĐBSCL gồm 13 tỉnh, thành phố (Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau); trong đó chọn 4 tỉnh đại diện để khảo sát thực chứng chuyên sâu gồm Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng và Cà Mau.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dữ liệu từ năm 2009 (thời điểm ban hành Quyết định 1956/QĐ-TTg) đến năm 2019.
- Phạm vi nội dung: Dưới giác độ chuyên ngành Quản lý công, luận án không đi sâu vào kỹ thuật giảng dạy nghề mà tập trung vào quy trình tổ chức thực hiện chính sách gồm 5 khâu: ban hành văn bản và kế hoạch triển khai; phổ biến, tuyên truyền; tổ chức bộ máy và phân công, phối hợp; huy động và sử dụng nguồn lực; kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhóm nội dung chính: thực hiện chính sách công và đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Về lý thuyết thực hiện chính sách công trên thế giới, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu:
- Elizabeth Eppel, David Turner và Amanda Wolf (2011) trong bài viết Experimentation and Learning in Public Policy Implementation: Implications for Public Management đã chỉ ra tính phức tạp vốn có của quá trình thực thi và phân biệt hai mô hình: mô hình thiết kế - thực thi chính sách trung tâm cơ quan và mô hình thực nghiệm.
- Basir Chand (2009) với công trình Public Policy: Implementation Approaches so sánh hai phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up), đồng thời đề xuất kết hợp các phương pháp cơ cấu, thủ tục, hành vi và chính trị.
- Sabatier (1986) trong bài viết Top-Down and Bottom-Up Approaches to Implementation Research: A Critical Analysis and Suggested Synthesis phân tích ưu điểm và nhược điểm của hai cách tiếp cận: mô hình từ trên xuống dễ xác định mục tiêu và nguồn lực nhưng có thể gây căng thẳng cho chủ thể thực thi; mô hình từ dưới lên huy động mạng lưới rộng nhưng dễ làm suy giảm vai trò định hướng của cấp trung ương.
- Smith (1973) với bài viết The Policy Implementation Process đã phác thảo quy trình thực thi gồm bốn yếu tố tương tác: chính sách ban hành, cơ quan thực thi, nhóm mục tiêu và các yếu tố môi trường, từ đó xây dựng ma trận mười loại căng thẳng dựa trên lý thuyết của Zollschan.
- Các tác giả Michael Howlett, M. Ramesh, Alberta, Anthony Joseph và Millicent Addo cũng được trích dẫn về các khái niệm và mô hình thực thi chính sách.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thực hiện chính sách công được tác giả hệ thống hóa gồm:
- Lê Như Thanh và Lê Văn Hòa (2016) trong sách chuyên khảo Hoạch định và thực thi chính sách phân chia quy trình thực thi thành 3 bước: xây dựng, ban hành văn bản, chương trình, dự án; tổ chức thực hiện; sơ kết, tổng kết.
- Ngô Hoài Sơn (2016) trong Đại cương về chính sách công phân tích khung thực thi chính sách thông qua bốn yếu tố: động cơ, thông tin, quyền lực và sự tương tác.
- Nguyễn Hữu Hải (2014) trong Chính sách công – Những vấn đề cơ bản xác định quy trình thực thi gồm 5 bước: lập kế hoạch; phổ biến tuyên truyền; phân công, phối hợp; đôn đốc thực hiện; đánh giá, tổng kết.
- Lê Chi Mai (2001) trong Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách phân tích vị trí, các yếu tố tác động, phương pháp và điều kiện thực thi chính sách.
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Thắng (2016) về thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc và luận án tiến sĩ của Lê Văn Hòa (2015) về quản lý theo kết quả trong thực thi chính sách công ở Việt Nam (đề xuất khung 4 bước: lập kế hoạch, theo dõi kết quả và quản lý rủi ro, đánh giá và báo cáo, điều chỉnh).
Về nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn:
- Các nghiên cứu quốc tế: Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về cải cách giáo dục và đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường; Nolwen Henaff và Jean Yves Martin (2001) trong Labor, Employment And Human Resources In Viet Nam After 15 Years Of Renovation đánh giá điểm nghẽn chất lượng lao động Việt Nam; Tuan Francis, Somwaru Agapi và Diao Xinshen (2000) phân tích di cư lao động nông thôn tại Trung Quốc; Basu nghiên cứu tác động của Đạo luật bảo lãnh việc làm nông thôn tại Ấn Độ đối với thị trường lao động mùa vụ.
- Các nghiên cứu trong nước: Nghiên cứu của tổ chức Oxfam (2017) khảo sát tại 7 tỉnh về hiệu quả ĐTN cho LĐNT dân tộc thiểu số; Nguyễn Hoài Nam (2016) về chính sách việc làm cho LĐNT ở Bắc Trung Bộ; Nguyễn Quốc Dũng và Võ Thị Kim Thu (2016) về giảm nghèo đồng bào Khmer Tây Nam Bộ (chỉ rõ tỷ lệ lao động Khmer chưa qua đào tạo chiếm tới 97,7%); Phạm Đi (2016) khảo sát xây dựng nông thôn mới tại duyên hải Nam Trung Bộ; Hà Anh (2015) hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về ĐTN cấp xã; Bùi Hồng Đăng (2015) phân tích thực trạng ĐTN tại tỉnh Nam Định; Tổng cục Dạy nghề (2014) tổng kết các mô hình dạy nghề cho LĐNT; Nguyễn Sóng Hiền (2013) đánh giá Đề án 1956 giai đoạn 2011-2013; Nguyễn Đức Tĩnh (2012) về đầu tư công cho dạy nghề; Nguyễn Văn Đại (2012) nghiên cứu ĐTN cho LĐNT vùng đồng bằng sông Hồng; Trần Thị Minh Ngọc (2010) và Ngô Tiến Vinh (2010) đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và đào tạo nghề tại ĐBSCL.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các công trình đã công bố tiếp cận đào tạo nghề dưới góc độ kinh tế học lao động, xã hội học hoặc quản lý giáo dục thuần túy; các nghiên cứu chính sách công thường dừng ở tầm vĩ mô chung. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, độc lập và toàn diện về quy trình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT dưới lăng kính Quản lý công gắn liền với các điều kiện đặc thù tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của vùng ĐBSCL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý thuyết, tác giả xác lập hệ thống khái niệm và khung phân tích chuyên ngành:
- Khái niệm lao động nông thôn: Là bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn có khả năng lao động, bao gồm người trong độ tuổi lao động (nam 15-60 tuổi, nữ 15-55 tuổi theo luật định tại thời điểm nghiên cứu) và những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia làm việc (nam từ 61 tuổi trở lên, nữ từ 56 tuổi trở lên, hoặc thiếu niên 13-14 tuổi). LĐNT có 4 đặc điểm: số lượng lớn nhưng phân bố không đều; chất lượng thấp về thể lực và trí lực; tính đa dạng, dễ biến động và mang tính thời vụ; đang có xu hướng già hóa do di cư lao động trẻ.
- Khái niệm đào tạo nghề: Dẫn chiếu Khoản 2 Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, tác giả định nghĩa ĐTN là quá trình trang bị kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực hành cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định. Đối với LĐNT, ĐTN mang tính đặc thù: thời gian đào tạo ngắn hạn, linh hoạt, tập trung vào thực hành ("cầm tay chỉ việc", dạy nghề tại đồng ruộng, làng nghề), gắn với đối tượng có nguồn nội lực kinh tế yếu.
- Quy trình thực hiện chính sách: Luận án xây dựng quy trình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT gồm 5 khâu liên hoàn, đan xen: (1) Xây dựng văn bản và kế hoạch triển khai; (2) Tổ chức bộ máy và phân công, phối hợp; (3) Phổ biến, tuyên truyền chính sách; (4) Huy động và sử dụng các nguồn lực; (5) Kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Luận án phân loại 5 nhóm yếu tố tác động đến quá trình thực thi: (1) Bản thân chính sách hiện hành; (2) Cơ quan tổ chức thực hiện; (3) Các cơ quan phối hợp; (4) Đối tượng thụ hưởng chính sách; (5) Nguồn lực bảo đảm thực hiện.
- Khung đánh giá: Được thiết lập dựa trên ba thành phần: yếu tố đầu vào (văn bản, nguồn kinh phí, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất), quá trình thực hiện (tuyên truyền, điều tra nhu cầu, tổ chức lớp học, phối hợp liên ngành) và kết quả đầu ra (số người học, tỷ lệ có việc làm, tỷ lệ chuyển đổi nghề nghiệp và thoát nghèo).
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Phân tích hệ thống văn bản pháp quy, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, báo cáo tổng kết của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê và các địa phương vùng ĐBSCL.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Luận án tiến hành điều tra thực địa tại 4 tỉnh đại diện cho các tiểu vùng sinh thái và trình độ phát triển của ĐBSCL gồm Tiền Giang (vùng phát triển công nghiệp), Bến Tre (vùng thuần nông nghiệp), Sóc Trăng (vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer, Hoa, Chăm) và Cà Mau (vùng phát triển kinh tế biển).
Chi tiết quy mô mẫu khảo sát được tổng hợp trong bảng sau:
| Đối tượng khảo sát |
Số phiếu phát ra |
Số phiếu hợp lệ thu về |
Tỷ lệ thu hồi hợp lệ |
| Cán bộ, công chức cấp huyện và cấp xã (100 phiếu/tỉnh) |
400 |
374 |
93,5% |
| Lao động nông thôn (190 phiếu/tỉnh) |
760 |
714 |
93,9% |
| Tổng cộng |
1.160 |
1.088 |
93,8% |
Kỹ thuật chọn mẫu được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên. Số liệu sơ cấp sau khi làm sạch được nhập và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS.
- Phương pháp so sánh: Dùng để đối chiếu các chỉ số lao động qua đào tạo, cơ cấu mạng lưới cơ sở đào tạo nghề và đội ngũ giáo viên của ĐBSCL với các vùng kinh tế khác trên cả nước.
- Phương pháp mô hình hóa: Dùng để mô phỏng quy trình thực thi chính sách, tổ chức bộ máy và các chiều kích tương tác trong quá trình triển khai chính sách tại địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tập trung tổng thuật các tài liệu học thuật trong và ngoài nước về chu trình chính sách công và hoạt động đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn. Tác giả phân loại rõ các luồng quan điểm: lý thuyết thực thi từ trên xuống của Sabatier, phương pháp tiếp cận đa chiều của Basir Chand, và lý thuyết về các lực căng thẳng trong thực thi của Smith. Đồng thời, tác giả phân tích các mô hình đào tạo nghề nông thôn từ kinh nghiệm quốc tế (Ấn Độ, Trung Quốc) và thực tiễn triển khai Đề án 1956 tại các vùng miền của Việt Nam. Chương 1 làm rõ các thành tựu lý luận đã đạt được, chỉ ra những hạn chế của các tài liệu trước đây khi thiếu vắng một nghiên cứu hoàn chỉnh dưới giác độ Quản lý công về vùng ĐBSCL, từ đó khẳng định tính độc lập và sự cần thiết của đề tài.
Chương 2: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về lao động nông thôn và chính sách đào tạo nghề cho đối tượng này; phân tích vai trò của đào tạo nghề trong việc nâng cao kỹ năng lao động, phát triển kinh tế hộ gia đình, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Luận án phân tích chi tiết quy trình thực hiện chính sách gồm 5 bước và thiết lập bộ tiêu chí đánh giá dựa trên đầu vào, quá trình và đầu ra. Tác giả cũng phân tích sâu 5 nhóm yếu tố tác động đến hiệu quả thực thi chính sách. Cuối chương, tác giả đúc kết kinh nghiệm thực thi chính sách đào tạo nghề của một số quốc gia và các tỉnh thành trong nước, rút ra các bài học về vai trò lãnh đạo của chính quyền địa phương, vai trò của công tác thông tin truyền thông, việc phân cấp quản lý và sự cần thiết phải gắn kết với các doanh nghiệp sử dụng lao động.
Chương 3: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về việc thực hiện chính sách tại ĐBSCL giai đoạn 2009-2019 dựa trên dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát 1.088 phiếu tại Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng và Cà Mau.
- Khái quát tình hình: ĐBSCL có lực lượng lao động nông thôn dồi dào nhưng tỷ lệ qua đào tạo rất thấp so với bình quân cả nước.
- Tổ chức thực hiện: Tác giả phân tích từng khâu trong quy trình thực thi: việc ban hành kế hoạch tại địa phương đôi khi còn rập khuôn văn bản cấp trên; bộ máy chỉ đạo được hình thành từ tỉnh đến xã nhưng hoạt động kiêm nhiệm, cơ chế phối hợp giữa ngành Lao động - Thương binh và Xã hội với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các đoàn thể còn thiếu chặt chẽ; công tác tuyên truyền chủ yếu dùng loa truyền thanh và cuộc họp thôn ấp nên độ tiếp cận chưa đồng đều.
- Dữ liệu khảo sát và bảng biểu: Chương 3 trích dẫn các số liệu thực tế qua hệ thống bảng và biểu đồ (Bảng 3.1 đến 3.5; Biểu đồ 3.1 đến 3.14). Cụ thể như số liệu phân bổ ngân sách và cơ cấu đối tượng học nghề tại Trà Vinh (2010-2014); kết quả khảo sát nhận thức của người dân về chính sách (Bảng 3.5); đánh giá của 374 công chức và 714 người dân về tính phù hợp của chương trình đào tạo, mức độ theo dõi kiểm tra, chất lượng đội ngũ triển khai và nguồn kinh phí thực hiện.
- Đánh giá mặt đạt được: Chính sách đã nâng cao nhận thức của xã hội về học nghề; hỗ trợ hàng trăm nghìn lao động chuyển đổi nghề nghiệp hoặc cải thiện năng suất cây trồng, vật nuôi; mạng lưới cơ sở dạy nghề cấp huyện được đầu tư cơ sở vật chất.
- Tồn tại, hạn chế: Điều tra khảo sát nhu cầu học nghề còn mang tính hình thức, chưa bám sát nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp; danh mục nghề đào tạo còn nghèo nàn, nặng về lý thuyết; việc quản lý và phân bổ kinh phí còn dàn trải, chậm tiến độ; công tác kiểm tra, giám sát sau đào tạo bị buông lỏng; tỷ lệ học viên thoát nghèo bền vững và tìm được việc làm phi nông nghiệp mới còn thấp. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức hạn chế của người dân, năng lực chuyên môn của cán bộ cấp xã chưa đồng đều, và sự tham gia mờ nhạt của các doanh nghiệp trên địa bàn.
Chương 4: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trên cơ sở các chủ trương của Đảng, yêu cầu của thời kỳ mới và thực trạng tại địa phương, tác giả đề xuất 9 nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT: Rà soát, sửa đổi các quy định về mức chi hỗ trợ tiền ăn, đi lại phù hợp với biến động giá cả; mở rộng đối tượng thụ hưởng.
- Đổi mới công tác lập kế hoạch triển khai chính sách: Bỏ phương thức giao chỉ tiêu hành chính từ trên xuống, chuyển sang lập kế hoạch dựa trên kết quả điều tra nhu cầu thực tế của người lao động và đơn đặt hàng của doanh nghiệp.
- Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền chính sách: Đa dạng hóa các hình thức truyền thông, phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.
- Sắp xếp, kiện toàn các cơ sở đào tạo nghề: Tinh gọn đầu mối các trung tâm dạy nghề cấp huyện, sáp nhập với trung tâm giáo dục thường xuyên để tối ưu hóa nguồn lực.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự thực hiện chính sách: Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy nghề, bồi dưỡng kỹ năng quản lý cho công chức phụ trách công tác lao động - thương binh và xã hội cấp xã.
- Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan thực hiện chính sách: Phân định rõ trách nhiệm giữa các sở, ban, ngành và các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ).
- Đảm bảo kinh phí và sử dụng hiệu quả kinh phí: Đa dạng hóa nguồn lực tài chính, lồng ghép kinh phí từ các chương trình mục tiêu quốc gia; tăng cường quản lý ngân sách tránh thất thoát, lãng phí.
- Tăng cường sự tham gia của người dân: Tạo điều kiện để người lao động trực tiếp góp ý kiến về chương trình học và thời gian biểu đào tạo.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện: Thiết lập cơ chế giám sát độc lập, gắn trách nhiệm của người đứng đầu địa phương với kết quả việc làm sau học nghề.
Chương này cũng đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với Chính phủ, các bộ ngành Trung ương (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và đối với các cơ sở đào tạo nghề trong việc đổi mới chương trình và phương thức đào tạo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định 6 đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận, luận án làm rõ cơ sở lý luận về quy trình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT ở cấp địa phương, khẳng định quy trình này gồm 5 khâu cơ bản: ban hành văn bản/kế hoạch; tổ chức bộ máy và phân công, phối hợp; tuyên truyền vận động; huy động, sử dụng nguồn lực; kiểm tra, giám sát. Tác giả khẳng định đây không phải là quy trình tuyến tính một chiều mà các bước đan xen, lồng ghép và diễn ra đồng thời.
- Thiết lập khung tiêu chí đánh giá việc thực hiện chính sách dựa trên ba thành phần: yếu tố đầu vào, quá trình thực hiện và kết quả đầu ra, cung cấp cơ sở phương pháp luận để đo lường công tác thực thi chính sách đào tạo nghề.
- Nhận diện và hệ thống hóa 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực hiện chính sách: bản thân chính sách, cơ quan thực thi, cơ quan phối hợp, đối tượng thụ hưởng và nguồn lực bảo đảm.
- Tổng kết các bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước về vai trò của người đứng đầu chính quyền, tầm quan trọng của truyền thông, đẩy mạnh phân cấp quản lý và huy động sự tham gia của doanh nghiệp để áp dụng cho vùng ĐBSCL.
- Phân tích thực chứng toàn diện kết quả các chính sách hợp phần, chỉ rõ thực trạng, các mặt hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách tại các địa phương vùng ĐBSCL thông qua số liệu điều tra xã hội học từ 374 cán bộ công chức và 714 lao động nông thôn.
- Đề xuất hệ thống 9 giải pháp khoa học đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả thực thi. Trong đó, điểm mới đáng chú ý là tác giả mạnh dạn đề xuất Nhà nước cần xem xét lại vai trò cung ứng, từng bước "trả" dịch vụ đào tạo nghề cho lao động nông thôn về cho thị trường để bảo đảm tính cạnh tranh và nâng cao hiệu quả đào tạo.
Về mặt kiến nghị, tác giả đề xuất Trung ương cần sớm sửa đổi các định mức chi phí hỗ trợ đào tạo nghề tại Quyết định 1956/QĐ-TTg, thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp; đồng thời kiến nghị các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng thực hành và gắn với chuỗi giá trị nông nghiệp của vùng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do nguồn lực và thời gian có hạn, luận án không thể khảo sát toàn diện toàn bộ 13 tỉnh thành vùng ĐBSCL mà chỉ tập trung điều tra bảng hỏi tại 4 địa phương đại diện (Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau) và khai thác dữ liệu thứ cấp tại một số tỉnh như Trà Vinh. Mặc dù các tỉnh này mang đặc trưng của các tiểu vùng sinh thái khác nhau, kết quả khảo sát vẫn chưa bao quát hết toàn bộ những biến số đặc thù của từng địa phương còn lại trong Vùng. Bên cạnh đó, các tiêu chí đánh giá quá trình và đầu ra mới chỉ dừng ở mức nhận định định tính kết hợp thống kê mô tả, chưa xây dựng được mô hình kinh tế lượng để đo lường tác động biên của từng yếu tố chính sách.
Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả gợi mở là mở rộng phạm vi điều tra khảo sát trên diện rộng đối với tất cả các tỉnh thành vùng ĐBSCL; tiếp tục lượng hóa chi tiết hệ thống chỉ số đánh giá thực thi chính sách; và đi sâu nghiên cứu cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong việc chuyển giao cung ứng dịch vụ đào tạo nghề cho thị trường lao động nông thôn.
Giá trị tham khảo
Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo cụ thể đối với các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công: Luận án cung cấp khung lý thuyết về quy trình thực thi chính sách công 5 bước và phương pháp luận khảo sát thực chứng trong lĩnh vực phát triển nhân lực nông thôn.
- Các cơ quan hoạch định và quản lý nhà nước: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh vùng ĐBSCL có thể sử dụng các phát hiện thực chứng và 9 nhóm giải pháp để điều chỉnh kế hoạch đào tạo nghề, phân bổ ngân sách và hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành.
- Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Cung cấp tư liệu thực tế về nhu cầu đào tạo của người dân để thiết kế chương trình học, phương pháp giảng dạy linh hoạt phù hợp với trình độ của lao động nông thôn.
Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất là hệ thống số liệu khảo sát xã hội học tại Chương 3 (đối chiếu giữa góc nhìn của cán bộ quản lý với người dân thụ hưởng chính sách) và luận điểm đổi mới vai trò của Nhà nước trong việc xã hội hóa dịch vụ đào tạo nghề tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định đối tượng lao động nông thôn gồm những thành phần nào?
Theo luận án, lao động nông thôn là bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn có khả năng lao động. Thành phần này bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo quy định pháp luật (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia làm việc (nam từ 61 tuổi trở lên, nữ từ 56 tuổi trở lên, và người từ 13 đến 14 tuổi). Lực lượng này được chia thành ba nhóm: lao động trực tiếp sản xuất nông - lâm - ngư - diêm nghiệp; lao động làm dịch vụ kinh tế - kỹ thuật nông nghiệp; và lao động công nghiệp, dịch vụ làm công ăn lương tại nông thôn.
2. Khảo sát thực tế của luận án được thực hiện với quy mô mẫu ra sao?
Tác giả đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên tại 4 tỉnh đại diện cho vùng ĐBSCL gồm Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng và Cà Mau. Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 1.160 phiếu, gồm 400 phiếu dành cho cán bộ công chức cấp huyện/xã (100 phiếu/tỉnh) và 760 phiếu dành cho lao động nông thôn (190 phiếu/tỉnh). Sau khi thu hồi và làm sạch, số phiếu hợp lệ đưa vào xử lý bằng phần mềm SPSS là 374 phiếu công chức (đạt 93,5%) và 714 phiếu người dân (đạt 93,9%).
3. Nghiên cứu của Oxfam và Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn được tác giả trích dẫn phản ánh những bất cập gì?
Nghiên cứu chỉ ra rằng trên thực tế: khoảng 1/3 số lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn được đánh giá hiệu quả thấp; gần 1/3 số người học có việc làm mới, số còn lại vẫn làm nghề cũ sau khi học; tỷ lệ lao động nông thôn sau học nghề thuộc diện thoát nghèo chỉ chiếm khoảng 4-5%, cá biệt tại tỉnh Trà Vinh tỷ lệ này chỉ đạt 0,5%.
4. Luận án phân chia quy trình thực hiện chính sách đào tạo nghề thành những bước nào?
Luận án xác lập quy trình gồm 5 bước cơ bản: (1) Xây dựng văn bản và kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; (2) Tổ chức bộ máy và phân công, phối hợp thực hiện chính sách; (3) Phổ biến, tuyên truyền chính sách; (4) Huy động và sử dụng nguồn lực thực hiện chính sách; (5) Kiểm tra, giám sát và sơ kết, tổng kết việc thực hiện chính sách. Các bước này không diễn ra theo đường thẳng cố định mà đan xen và lồng ghép đồng thời.
5. Luận điểm mang tính đột phá về vai trò của Nhà nước trong đào tạo nghề được tác giả đề xuất là gì?
Tác giả đề xuất Nhà nước cần xem xét lại vai trò trực tiếp làm dịch vụ đào tạo nghề; trong định hướng dài hạn, Nhà nước cần từng bước chuyển giao ("trả") việc cung ứng dịch vụ đào tạo nghề cho lao động nông thôn về cho cơ chế thị trường. Nhà nước chỉ nên tập trung vào vai trò kiến tạo, xây dựng chính sách, hỗ trợ kinh phí thông qua đặt hàng và kiểm tra, giám sát chất lượng đầu ra.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Vành Khuyên là công trình nghiên cứu chuyên khảo trong lĩnh vực Quản lý công, giải quyết có hệ thống vấn đề thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Dựa trên khung lý thuyết 5 bước thực thi chính sách và dữ liệu khảo sát thực chứng từ 1.088 mẫu điều tra tại 4 địa phương đại diện, tác giả đã chỉ rõ các điểm nghẽn trong công tác lập kế hoạch, phối hợp liên ngành, phân bổ kinh phí và kiểm tra giám sát. Hệ thống 9 nhóm giải pháp được đề xuất, đặc biệt là kiến nghị chuyển đổi vai trò cung ứng dịch vụ của Nhà nước sang cơ chế thị trường, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để các cơ quan quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công trong đào tạo nghề nông thôn thời gian tới.