Luận án tiến sĩ về chính sách thúc đẩy hợp tác sản xuất và tiêu thụ trong ngành thủy sản Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích chính sách thúc đẩy hợp tác sản xuất và tiêu thụ trong ngành thủy sản Việt Nam, góp phần phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Kinh Tế Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

192
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tổng quan nghiên cứu tình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến luận án

1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY CÁC HÌNH THỨC HỢP TÁC, LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT - TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG NGÀNH THUỶ SẢN

2.1. Một số khái niệm và vai trò của hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm

2.1.1. Khái niệm, các hình thức và nguyên tắc của hợp tác trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm

2.1.2. Khái niệm, các hình thức, phương thức và nguyên tắc liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm

2.1.3. Vai trò của hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm

2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm

2.2. Những vấn đề lý luận về chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản

2.2.1. Khái niệm chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản

2.2.2. Chức năng và vai trò của chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản

2.2.3. Cơ sở lý luận về ban hành, tổ chức thực thi và đánh giá chính sách

2.2.4. Một số chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản

2.2.5. Các tiêu chí đánh giá chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản

2.2.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản

2.2.6.1. Yếu tố khách quan
2.2.6.2. Yếu tố chủ quan

2.2.7. Kinh nghiệm của một số quốc gia về chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm

2.2.7.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia về chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm
2.2.7.2. Bài học rút ra cho ngành thuỷ sản Việt Nam

3. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY CÁC HÌNH THỨC HỢP TÁC, LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT - TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG NGÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM

3.1. Khái quát đặc điểm phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ của ngành thuỷ sản Việt Nam

3.2. Khái quát thực trạng các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2018

3.2.1. Thực trạng các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2018

3.2.2. Thực trạng các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong lĩnh vực khai thác hải sản của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2018

3.3. Phân tích thực trạng các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2018

3.3.1. Các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2018

3.3.2. Hiện trạng ban hành các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2018

3.3.3. Tình hình triển khai thực hiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2018

3.3.4. Một số kết quả thực hiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2018

3.3.5. Phân tích thực trạng các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản của Việt Nam thông qua số liệu điều tra, khảo sát, phỏng vấn

3.3.6. Đánh giá chính sách ưu đãi liên quan đến sử dụng đất, mặt nước trong nuôi trồng thuỷ sản theo quan điểm của doanh nghiệp, hộ cá thể, HTX/tổ hợp tác/tổ đội

3.3.7. Đánh giá chính sách ưu đãi về tín dụng/đầu tư trong thuỷ sản theo quan điểm của doanh nghiệp, hộ cá thể, HTX/tổ hợp tác/tổ đội

3.3.8. Đánh giá chính sách ưu đãi về hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực trong thuỷ sản theo quan điểm của doanh nghiệp, hộ cá thể, HTX/tổ hợp tác/tổ đội

3.3.9. Đánh giá chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển thị trường thuỷ sản theo quan điểm của doanh nghiệp, hộ cá thể, HTX/tổ hợp tác/tổ đội

3.3.10. Đánh giá chung về thực trạng các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản Việt Nam thời gian qua

3.3.10.1. Những điểm phù hợp của chính sách
3.3.10.2. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập

4. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY CÁC HÌNH THỨC HỢP TÁC, LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT - TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030

4.1. Bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước ảnh hưởng đến hoàn thiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2030

4.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực ảnh hưởng đến hoàn thiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2030

4.1.2. Bối cảnh trong nước ảnh hưởng đến hoàn thiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2030

4.2. Quan điểm và định hướng hoàn thiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2030

4.2.1. Quan điểm hoàn thiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2030

4.2.2. Định hướng hoàn thiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2030

4.3. Các giải pháp hướng hoàn thiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2030

4.3.1. Đối với Trung ương

4.3.2. Đối với các địa phương

4.3.3. Đề xuất cụ thể đối với từng nhóm chính sách

4.3.4. Một số kiến nghị điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện các chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2030

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Ngành thủy sản Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách hợp tác sản xuấttiêu thụ thủy sản cần thiết để nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh. Theo FAO (2018), dân số toàn cầu dự kiến đạt 9 tỷ vào năm 2050, yêu cầu sản xuất lương thực phải gia tăng. Ngành thủy sản cần tối ưu hóa nguồn lực và thích ứng với tiêu chuẩn chất lượng cao. Xu hướng toàn cầu hóa và sự gia tăng tầng lớp trung lưu tạo cơ hội cho các nhà sản xuất. Tuy nhiên, sản xuất thủy sản hiện tại chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, chưa đáp ứng yêu cầu chất lượng. Chính sách thúc đẩy hợp tácliên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm là cần thiết để giải quyết tình trạng manh mún, nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm thủy sản Việt Nam.

II. Các hình thức hợp tác trong ngành thủy sản

Hợp tác trong ngành thủy sản bao gồm nhiều hình thức như hợp tác xã, tổ hợp tác và liên kết giữa các doanh nghiệp. Chính sách hợp tác sản xuất giúp hình thành các mô hình liên kết hiệu quả, từ đó tạo ra sản phẩm chất lượng cao. Các hình thức này không chỉ giúp tăng cường sản xuất mà còn nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm. Việc xây dựng chuỗi giá trị trong ngành thủy sản là một trong những mục tiêu quan trọng. Các mô hình liên kết này cần được hỗ trợ từ chính sách để phát triển bền vững. Hợp tác giữa các bên liên quan, từ nông dân đến doanh nghiệp chế biến, là yếu tố quyết định cho sự thành công của ngành thủy sản.

III. Thực trạng chính sách thúc đẩy hợp tác trong ngành thủy sản

Thực trạng chính sách thúc đẩy hợp tác sản xuấttiêu thụ sản phẩm trong ngành thủy sản Việt Nam cho thấy nhiều tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vướng mắc trong quá trình triển khai. Các chính sách hiện tại chưa thực sự đáp ứng nhu cầu của người sản xuất. Việc tiếp cận chính sách còn gặp khó khăn do thủ tục phức tạp và nguồn kinh phí hạn chế. Nhiều địa phương chưa tự chủ được ngân sách, dẫn đến chính sách ban hành nhưng không thực hiện được. Cần có cơ chế rõ ràng để giám sát và hỗ trợ trong quá trình thực hiện chính sách. Việc hoàn thiện chính sách là cần thiết để nâng cao hiệu quả hợp tác trong ngành thủy sản.

IV. Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách

Để hoàn thiện chính sách thúc đẩy hợp tác sản xuấttiêu thụ sản phẩm trong ngành thủy sản, cần có các giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần cải cách thủ tục hành chính để người sản xuất dễ dàng tiếp cận chính sách. Thứ hai, cần tăng cường nguồn kinh phí hỗ trợ cho các mô hình hợp tác. Thứ ba, cần xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro và lợi nhuận giữa các bên tham gia liên kết. Cuối cùng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân hiểu rõ về chính sách và cách thức thực hiện. Những giải pháp này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của chính sách và phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề và nhân rộng bởi FAO từ năm 2001. Đặng Kim Sơn (2001), trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm của thế giới và Việt Nam cho rằng: “sản xuất nông sản theo hợp đồng (contract farming-CF) hay hệ thống hợp đồng (contract symtem) là hình thức tổ chức sản xuất gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến hoặc kinh doanh nông sản bằng hợp đồng hai chiều quy định các điều kiện sản xuất và tiếp thị nông sản hàng hóa”. Điểm lợi chủ yếu của hình thức hợp tác sản xuất này là chia sẻ rủi ro, phân phối lợi nhuận hợp lý, tập hợp người sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ lẻ thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và ổn định, tăng cường trao đổi thông tin giữa thị trường với người sản xuất. Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng đã và đang tồn tại như là một phương tiện hữu ích trong sản xuất nông nghiệp thương mại đối với người nông dân.

Theo Lê Hữu Ảnh (2010), sự thay đổi trong sở thích tiêu dùng, cũng như nhu cầu ngày càng cao của thương mại thế giới đối với các sản phẩm tươi sống, đảm bảo an toàn vệ sinh đã khiến cho hình thức sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng ngày càng được ưa chuộng và phát triển. Ngoài ra, theo nghiên cứu về phát triển thế chế giao dịch nông sản ở Việt Nam, Bảo Trung (2009) đã cho rằng phát triển thế chế giao dịch nông sản sẽ góp phần thúc đấy các hình thức giao dịch nông sản phát triên đa dạng và hiệu quả. Các giao dịch ngay tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nên kinh tế nước ta dưới hai hình thức là giao dịch phân tán và giao dịch tập trung. Trong đó, giao dịch thông qua hợp đồng là một hình thức tiên tiến sẽ đóng góp rất lớn trong viêc giải quyết bài toán tiêu thụ nông sản cho nông dân, nhất là các hộ nông dân sản xuất theo hợp đồng đối với một số sản phẩm có lợi thế xuất khẩu.

luan an 6 Khi nghiên cứu các sản phẩm cụ thể là lúa gạo, mía đường, chè, cà phê, sữa, lâm sản, chăn nuôi lợn và thủy sản, Lưu Đức Khải (2009) cho rằng nguyên nhân hạn chế tỷ lệ nông sản được sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng, bao gồm: hình thức hợp đồng chưa cụ thể cho từng loại sản phẩm, cơ chế hợp đồng chưa cho thấy sự minh bạch và chia sẻ rủi ro giữa các bên tham gia, và ý thức trách nhiệm thực hiện hợp đồng của các bên tham gia. Qua đó nghiên cứu cũng đã đề xuất các biện pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng. Góp thêm về vấn đề hợp đồng trong sản xuất, Nguyễn Ngân Loan (2011), giải pháp để nâng cao liên kết của các chủ thể kinh tế trong ngành thủy sản là tổ chức lại sản xuất theo mô hình liên kết dọc, trong đó lấy người nuôi làm trung tâm, doanh nghiệp chế biến có vai trò đầu tàu của mối liên kết, doanh nghiệp chế biến chủ động trong việc thực hiện hàng loạt các hợp đồng: (1) Hợp đồng hỗ trợ và bao tiêu sản phẩm cho người nuôi; (2) Hợp đồng với các đại lý, công ty cung cấp đầu vào như giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản; (3) Hợp đồng với ngân hàng nhằm cung cấp tài chính, tín dụng (4) Hợp đồng bảo hiểm với các công ty bảo hiểm; (5) Hợp đồng với các Hiệp hội để được cung cấp các thông tin thương mại về giá cả, thị trường ; (6) Hợp đồng với các Viện , Trường, Tổ chức nghiên cứu để chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ. Để hạn chế tình trạng bất lợi về mất cân đối cung cầu, các mối liên kết trong ngành hàng cá tra và tôm sú đã hình thành tại Việt Nam những năm vừa qua.

Theo Nguyễn Phú Sơn (2007) xu hướng phát triển thị trường tương lai cá tra, cá basa ở ĐBSCL là tiếp tục mở rộng diện tích nuôi, chất lượng sản phẩm sẽ được chú trọng hơn, nhu cầu liên kết giữa những người nuôi thủy sản với nhau (liên kết ngang), liên kết giữa người nuôi thủy sản và các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu sẽ phát triển sâu rộng. Van Binh (2006), đầu ra của nông hộ nuôi cá tra được bán trực tiếp cho các thương lái trung gian và công ty chế biến xuất khẩu. Thị trường đầu vào và đầu ra của hộ nuôi cá tra phụ thuộc một phần vào nhóm, hội mà nông hộ nuôi cá tham gia vào (liên kết ngang). Có thể phân biệt hộ nuôi cá tra thành 3 nhóm: (1) Người nuôi cá thể - không tham gia bất cứ câu lạc bộ hoặc hội đoàn nào (không tham gia liên kết ngang); (2) Nhóm thuộc thành viên của hội thủy sản (như Hội thủy sản An Giang - AFA); (3) Nhóm thuộc thành viên Câu lạc bộ/HTX nuôi cá tra thuộc các công ty chế biến xuất khẩu.

Hồ Quế Hậu (2013) khi nghiên cứu về “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam” đã chỉ ra rằng hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được luan an 7 những kết quả bước đầu đáng khích lệ, đã không những mang lại hiệu quả kinh tế cho các bên tham gia liên kết mà còn mạng lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét. Tuy vậy, hoạt động liên kết này vẫn còn ở quy mô và số lượng hạn chế, chất lượng thấp và hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân là do nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động liên kết kinh tế này chưa đúng đắn, chế tài và các cơ chế giám sát đảm bảo cho liên kết này vận hành còn nhiều bất cập, đồng thời Nhà nước chưa tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy liên kết phát triển. Theo Lê Thanh Sang, Nguyễn Đặng Minh Thảo (2015), liên kết trong sản xuất - tiêu thụ tôm tại một địa bàn nuôi tôm trọng điểm của Tây Nam Bộ Sản chủ yếu dựa trên quảng canh truyền thống, thiếu quy hoạch và phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào.

Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu ổn định cả về sản lượng lẫn chất lượng tôm. Sự yếu kém về nguồn lực của hộ sản xuất và các chủ thể liên kết khác đã hạn chế nhu cầu và khả năng liên kết mang tình bền vững. Kết quả nghiên cứu “ Hợp tác liên kết nông dân trong sản xuất nông nghiệp theo tiếp cận thúc đẩy quyền, tiếng nói, lựa chọn của nông dân: Hiện trạng và khuyến nghị chính sách do Oxfarm, Viện nghiên cứu và Tư vấn phát triển thgực hiện tại 3 tỉnh mang tính đặc thù về sản xuất nông nghiệp và thị trường của 3 vùng khác nhau của Việt Nam: Ninh Bình (Đồng bằng Bắc Bộ), Lâm Đồng (Tây Nguyên) và Đồng Tháp (Đồng bằng sông Cửu Long), phát triển hợp tác, liên kết nông dân bền vững được xác định là chính sách quan trọng, nhằm đổi mới tổ chức sản xuất sau một thời gian dài không thực sự đem lại hiệu quả. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy hợp tác liên kết nếu được tổ chức tốt sẽ giúp phát huy nội lực của người nông dân và hiệu quả sản xuất, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tự nhiên và xã hội, từ đó đảm bảo lợi ích và chia sẻ rủi ro một cách công bằng hơn giữa các bên.

Trong tương lai, xu hướng liên kết qua tổ chức của nông dân sẽ ngày càng phổ biến hơn so với hình thức liên kết trực tiếp giữa nông dân với doanh nghiệp qua các hợp đồng kinh tế, và là lựa chọn tốt hơn trong việc đảm bảo quyền lợi và tiếng nói của nông dân. Mô hình tổ hợp tác đang tăng mạnh do nông dân mong muốn liên kết trong điều kiện phù hợp với năng lực và nhu cầu của mình, có các giá trị chung được chia sẻ, các nguyên tắc căn bản về tự nguyện, tự chủ, tự quản, minh bạch được đảm bảo. Đề tài khoa học “Tổng quan chuỗi cung ứng thuỷ sản Việt Nam”, Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (2008); Báo cáo chuyên đề “Cải cách chính sách thương mại và thuỷ sản, cấu trúc lại chuỗi cung ứng, nâng cao nhu cầu đối với quản lý bền vững ngành thuỷ sản: trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam” của Nguyễn Thị Hồng Vân và cộng sự. Đề tài đã đánh giá chuỗi cung ứng cho hoạt động khai thác hải sản, phân tích luan an 8 và đánh giá các bên liên quan trong chuỗi, phân tích đánh giá một số chính sách thương mại và thuỷ sản ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm hải sản khai thác đến người tiêu dùng cuối cùng cho sản phẩm tiêu thụ trong nước và đến các nhà nhập khẩu cho các sản phẩm xuất khẩu.

Bàn về vai trò của liên kết trong sản xuất nông sản, Hồ Thanh Thuỷ (2017) nhận định rằng liên kết chính là chìa khóa giúp phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia. Quá trình liên kết đó có những đặc điểm riêng và đóng vai trò quan trọng: Góp phần đảm bảo các bên cùng có lợi; làm tăng hiệu quả trong sản xuất nông sản; góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò quản lý nhà nước về kinh tế. Để phát huy vai trò của liên kết trong sản xuất nông sản, bài viết đã đề xuất một số giải pháp cơ bản, quan trọng trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Theo Trương Thuý Bình (2015), Phát triển thương hiệu cho hàng thuỷ sản xuất khẩu là một trong những chủ đề được quan tâm hàng đầu hiện nay của nhiều doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam.

Nhiều giải pháp có tính hỗ trợ nhau đã được đề xuất nhằm giải quyết cho vấn đề này. Mỗi giải pháp có tính hợp lý và vai trò riêng, bài viết này xin được đề cập sâu đến giải pháp mang tính chất quyết định khi phát triển thương hiệu cho hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam dưới dạng hình thức phát triển thương hiệu tập thể, đó là "Phát triển chuỗi liên kết cung ứng hàng thuỷ sản xuất khẩu”. Nghiên cứu về vai trò của liên kết sản xuất nông nghiệp đối với kinh tế hộ tại đồng bằng sông Cửu Long, Huỳnh Kim Thừa ( 2018) cho rằng: Sản xuất nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế tại đồng bằng sông Cửu Long, nhưng tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ là rào cản chính cho thế mạnh này của vùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về chính sách thúc đẩy hợp tác sản xuất và tiêu thụ trong ngành thủy sản Việt Nam

Bài viết này trình bày về chính sách thúc đẩy hợp tác sản xuất và tiêu thụ trong ngành thủy sản Việt Nam, với mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản. Luận án này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hợp tác sản xuất và tiêu thụ trong ngành thủy sản, đồng thời đề xuất các giải pháp chính sách để thúc đẩy hợp tác này.

Bài viết này có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về chính sách thúc đẩy hợp tác sản xuất và tiêu thụ trong ngành thủy sản Việt Nam. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Luận án tiến sĩ về nâng cao chất lượng và phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam - Bài viết này trình bày về các giải pháp để nâng cao chất lượng và phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam.

Luận Án Về Phân Tích Chuỗi Giá Trị và Hiệu Quả Sản Xuất Cá Tra Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long - Bài viết này trình bày về phân tích chuỗi giá trị và hiệu quả sản xuất cá tra tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Luận văn thạc sĩ: Giải pháp phát triển bền vững cho hoạt động nuôi trồng thủy sản tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh - Bài viết này trình bày về các giải pháp phát triển bền vững cho hoạt động nuôi trồng thủy sản tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

Tất cả các bài viết này đều có liên quan đến chủ đề chính sách thúc đẩy hợp tác sản xuất và tiêu thụ trong ngành thủy sản Việt Nam, và có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về chủ đề này.