CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐÂY DOI MỚI CÔNG NGHỆ KHAI THÁC, BAO QUAN HAI SAN 1. Công nghệ và đổi mới công nghệ 1. Khai niệm công nghệ “Công nghệ” là một thuật ngữ phố biến và được nhiều người biết đến.
Nó được xuất hiện nhiều trong các cụm từ KH&CN, khu công nghệ cao, công nghệ chế tạo máy. Nhưng dé thực sự hiểu nó thì không phải ai cũng hiểu được rõ ràng. Ngay trong khoa học cũng có nhiều trường phái và có nhiều khái niệm, định nghĩa về công nghệ. Nhưng dù khái niệm nào cũng có tính chính xác và đúng đắn của nó vì sự tiếp cận khái niệm này là các cách tiếp cận khác nhau giữa các tác giả.
Khái niệm công nghệ (technology) được giáo sư người Đức tên là Johahn Beckmann nêu ra từ thế kỷ 18. Và từ đó một ngành khoa học mới được hinh thành đó là ngành công nghệ. Về định nghĩa công nghệ có rất nhiều các định nghĩa nhưng tổng kết lại thì định nghĩa này được tiếp cận theo hai hướng chính. Hai hướng tiếp cận dựa vào trình độ phát triển kinh tế ở các nước.
Và hai hướng chính là hướng tiếp cận ở các nước có nền kinh tế đang phát triển và hướng tiếp cận ở các nước có nền kinh tế phát trién. Hướng tiếp cận khái niệm công nghệ ở các nước kinh té phát triển Ở các nước phát triển thì kèm theo cơ sở hạ tầng của họ rất phát triển. Hầu hết các công ty đã được trang bị một cách hiện đại và hoàn chỉnh. Chính vì sự hoàn thiện của cơ sở hạ tang và nền kinh tế chuyển sang nên kinh tế công nghệ cao, nên kinh tế tri thức.
Và việc quan niệm về công nghệ của họ có nhiều điểm khác biệt so với các nước đang phát triển. Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu vê công nghệ và có cách tiêp cận ở các nước phát triên 11 như F. Và theo hướng tiếp cận này thì các nhà khoa học coi công nghệ là “tri thức, kiến thức”. Một số định nghĩa về công nghệ theo xu hướng này được một số nhà khoa học nghiên cứu và đề cập tới như: F.Rool thì “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”.
Theo tác giả thì công nghệ là những kiến thức được áp dụng vào thực tế và phát tạo ra các sản phẩm mới.Jones thì tác giả cho rằng “Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyên thành hàng hóa” (định nghĩa được đưa ra năm 1970). Theo tác giả thì bản chất công nghệ là cách thức (cũng là kiến thức) và xét về mục tiêu, công nghệ được dùng dé chuyển hóa nguồn lực thành hang hóa.Dunning thì “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng dé nâng cao hiệu quả sản xuất và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dich vụ mới” (định nghĩa được đưa ra năm 1982). Công nghệ là kiến thức không sờ mó được, không phân chia được và có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ.Baranson (định nghĩa được đưa ra vào năm 1776) thì “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc về các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu cần thiết, cấu kiện và các sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh”. Và theo định nghĩa này thì công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm.
Tiếp theo định nghĩa của tác giả E.Graham đưa ra năm 1988 thì “Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được và có lợi vê mặt kinh tê khi sử dụng sản xuât ra các sản phâm dịch vụ”.Graham thì công nghệ có bản chất là kiến thức khoa học và được áp dụng vào công nghiệp.strunk thì “Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghệ bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và phương pháp”. Định nghĩa này được tác giả đưa ra vào năm 1986 và theo định nghĩa này thì công nghệ có bản chất là kiến thức khoa học và được áp dụng vào công nghệ. Sáu định nghĩa mà các tác giả này đưa ra đã nhấn mạnh ban chất của công nghệ là “kiến thức”, coi công nghệ thuần túy là “phần mềm”, và chủ yếu phản ánh thực tiễn ở các nước phát triển. Hướng tiếp cận khái niệm công nghệ ở các nước đang phát triển Đa số các nước đang phát triển hiện nay có nền kinh tế đang chuyền từ nông nghiệp sang công nghiệp nên đang trong quá trình hoàn thiện cơ sở vật chất của mình.
Trang bị cho nền công nghiệp còn khá là thô sơ. Hiện nay việc thu nạp công nghệ ở các nước đang phát triển, nơi mà nền kinh tế đang được trang bị dé hoan thiện cơ sở hạ tầng. Theo t6 chức PROTDEC (1982) thì “Công nghệ là mọi kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”. Trong khái niệm này thì công nghệ là tất cả các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thiết bi máy móc dé phục vụ cho sản xuất.
Theo Ngân hàng thế giới đã đưa ra định nghĩa về công nghệ “Công nghệ là phương pháp chuyên hóa các nguồn lực thành sản phẩm”. Nó bao gồm 3 yếu tố. - Thông tin về phương pháp. - Phương tiện công cụ sử dụng phương pháp dé thực hiện việc chuyên hóa.
- Sự hiểu biết về phương pháp hoạt động như thé nao và tại sao. 13 Theo định nghĩa này thì công nghệ có bản chất là thông tin, công cụ, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyền hóa các yếu tố đầu vào thành sản phẩm. Còn theo Sharif thì ông cho rằng “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo đôi mới và lựa chọn những kỹ thuật khác nhau va sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yêu tổ bao gồm môi trường, vật chất, xã hội và văn hóa”. Theo định nghĩa của ông thì công nghệ là việc tập hợp phần cứng và phần mềm bao gồm có 4 dạng chính: - Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh.) - Dạng con người kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm.
- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp. được ghi lại trong các tài liệu). - Dạng thiết bị tổ chức (dich vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cau quan lý, hệ thống pháp luật.) Theo định nghĩa này thì công nghệ có bản chất là vật thể (như thiết bị máy móc) còn gọi là phần kỹ thuật: con người, phần con người, ghi chép thông tin, thiết chế tô chức, phần tô chức, có mục tiêu, được sử dụng tối ưu, dé tác động vào các yếu tố môi trường vật chất, xã hội, văn hóa. Theo UNCATAD đưa ra vào năm 1972 thì “Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất và như vậy nó đang được mua và bán trên thị trường như mặt hàng hóa được thể hiện ở một trong những dạng sau: - Tư liệu sản xuất đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gan với các quyết định đầu tư.
- Nhân lực và thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ chuyên môn cao và chuyên sâu với khả năng sử dụng các thiết bị và kỹ thuật làm chủ được bộ máy và giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin. 14 - Thông tin dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyên. Định nghĩa này cho rằng về bản chất công nghệ là tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin và có mục tiêu làm đầu vào cần thiết cho sản phẩm. Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 cho rằng “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện, dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm ”.
Định nghĩa này nói rõ công nghệ bao gồm cả phương tiện hay phần cứng. Trên đây là các định nghĩa theo hướng tiếp cận ở các nước có nền kinh tế đang phát triển. Ở đây các định nghĩa nhân mạnh các dạng thức cụ thể của công nghệ hoặc vật mang kiến thức công nghệ như thiết bị máy móc, tài liệu. Việc xem xét khái niệm công nghệ này đã nói lên được nhiều ưu điểm của việc mua bán công nghệ dưới hình thức là các dạng thức của công nghệ.
Nó giúp cho các nước đang phát triển dưới hình thức là các dạng thức của công nghệ. Nó giúp cho các nước đang phát triển mua công nghệ tránh việc phải nghiên cứu lại của các nước đi trước. Kết luận chung về khái niệm công nghệ: Từ các định nghĩa này ta có thể nhận thấy rằng việc tiếp cận khái niệm của các tác giả này là ở các khía cạnh, các góc nhìn khác nhau và phục vụ cho mục đích của tác giả. Các định nghĩa này đều thé hiện đúng đắn các tư tưởng khoa học của tác giả, và các định nghĩa này phù hợp vào từng hoàn cảnh.
Tuy các định nghĩa này có sự khác nhau nhưng nó đều có bản chất chung là nói tới công nghệ với tư cách là tri thức cần có dé biến đổi các nguồn lực thành sản pham. Điểm khác nhau giữa các định nghĩa này nam ở chỗ coi 15 những vật mang công nghệ như máy móc thiết bị sản phẩm trung gian, lao động khoa học và công nghệ nằm trong phạm trù công nghệ hay không? Việc mua bán công nghệ thông qua việc thu nạp mua bán các loại máy móc, tư liệu sản xuất và các tri thức vận hành máy móc là một loại hình tỏ ra có lợi cho các nước đang phát triển. Việc mua bán máy móc (trong đó hàm chứa cả những thành quả của việc nghiên cứu) sẽ giúp cho các nước nhập công nghệ tránh phải nghiên cứu lại của các nước đi trước. Từ những phân tích các khái niệm trên thì ta có một khái niệm tổng quát như sau: Công nghệ có thể hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mêm ) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghỉ chép.) và mọi loại hình thiết bị công cụ tu liệu san xuất (được gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tô chức, pháp chế, dịch vụ.