CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT NHẬN CHÌM VẬT CHẤT Ở BIỂN 1. Khái quát chung thực hiện pháp luật về nhận chìm vật chất ở biển 1. Khái niệm về nhận chìm vật chất ở biển Biển và đại dương đang bị ô nhiễm do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội.
Một trong các nguồn gây ô nhiễm là do nhận chìm, đổ chất thải và các vật chất khác không được kiểm soát xuống biển do đây là hoạt động thường xuyên của các quốc gia để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Trên thế giới thuật ngữ “nhận chìm” được xác định trong Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm chất thải và các chất khác năm 1972 (Công ước Luân Đôn 1972) và Nghị định thư Luân Đôn năm 1996 của Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm chất thải và các chất khác. Nhận chìm được hiểu như sau: + Bất kỳ sự đổ, thải có ý thức nào xuống biển các chất thải hoặc các chất khác từ các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình nhân tạo khác ở biển. + Bất kỳ sự đánh chìm nào của tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình nhân tạo khác ở biển.
Việc nhận chìm vật chất ở biển không bao gồm: + Việc đổ, thải các chất thải hoặc các chất khác được sản sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc khai thác bình thường của tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình khác trên biển, cũng như các thiết bị của chúng, ngoại trừ các chất thải hoặc các chất khác được chuyên chở hoặc chuyển tải trên các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình Luan van 8 khác bố trí ở biển được dùng để đổ thải các chất đó, trên các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hay các công trình đó tạo ra; + Việc tàng chứa các chất với mục đích không phải chỉ là để đổ, thải chúng với điều kiện là việc tàng chứa này không đi ngược lại những mục đích của Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996. Ở Việt Nam, thuật ngữ nhận chìm vật chất ở biển đã được quy định trong Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 như sau “nhận chìm ở biển là sự đánh chìm hoặc trút bỏ có chủ định xuống biển các vật, chất được nhận chìm ở biển theo quy định của Luật này”[28]. Như vậy với các thuật ngữ được quy định trên Thế giới cũng như ở Việt nam ta có thể hiểu “Hoạt động nhận chìm là sự đánh chìm hoặc trút bỏ có chủ định xuống biển các loại vật chất mà việc xử lý các vật chất đó trên đất liền là không thể thực hiện được hoặc không có hiệu quả về kinh tế - xã hội”. Hoạt động nhận chìm mang lại nhiều lợi ích trong việc mở rộng hệ thống cảng biển, luồng hàng hải phục vụ phát kinh tế, xã hội cho các quốc gia có biển.
Tuy nhiên hoạt động nhận chìm vật chất ở biển cũng đem đến những hậu quả nghiêm trọng cho hệ sinh thái môi trường biển và con người nếu không được kiểm soát và quản lý hiệu quả nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội. Pháp luật về nhận chìm vật chất ở biển Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Trong lĩnh vực môi trường, pháp luật là công cụ quan trọng để quản lý môi trường, tạo ra sự phối hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội thúc đẩy hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, điều đó cho thấy hiểu biết và Luan van 9 thực hiện tốt các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường chính là yếu tố bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững không chỉ cho thế hệ hiện tại mà còn cho cả thế hệ tương lai. Hoạt động nhận chìm vật chất ở biển là một hình thức, khai thác sử dụng tài nguyên biển để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, như vậy ta có thể hiểu đưa ra khái niệm: Pháp luật về nhận chìm vật chất ở biển là những quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành, đảm bảo thực hiện để điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực nhận chìm vật chất ở biển nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và công tác quản lý của Nhà nước.
Thực hiện pháp luật về nhận chìm vật chất ở biển Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật chính vì vậy khi thực hiện quản lý bất kì một lĩnh vực nào, Nhà nước đều sử dụng pháp luật như một công cụ cần thiết, hữu dụng và phổ biến nhất bảo đảm Nhà nước thực thi quyền lực của mình một cách có hiệu quả trên mọi mặt của đời sống xã hội. Sự phát triển kinh tế - xã hội có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật nói chung và hoạt động thực hiện pháp luật môi trường nói riêng. Khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội, buộc các chủ thể phải tìm hiểu pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, làm sao cho các hành vi của mình phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, được pháp luật cho phép. Trong trường hợp cần thiết, các chủ thể có thể sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Môi trường cung cấp các yếu tố đầu vào cho các quá trình sản xuất - kinh doanh, đồng thời, môi trường cũng là nơi tiếp nhận các yếu tố đầu ra là các chất thải từ các hoạt động này. Theo giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Học viện Hành chính Quốc gia: “Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của Luan van 10 các chủ thể pháp luật” [18, tr.343], từ đó chúng ta có thể hiểu Thực hiện pháp luật về nhận chìm vật chất ở biển tại Việt Nam là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về nhận chìm vật chất ở biển đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức. Các hình thức thực hiện pháp luật về nhận chìm vật chất ở biển bao gồm - Tuân thủ pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật một cách thụ động, thể hiện ở sự kiềm chế của chủ thể để không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp luật và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Những quy phạm pháp luật cấm được quy định tại Điều 57, 58 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, ví dụ: nhận chìm vật chất ở biển chỉ được thực hiện khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép theo quy định của Luật, việc nhận chìm vật chất ở biển không được gây ra tác động có hại đến sức khỏe con người, tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước; hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu tới môi trường, hệ sinh thái biển.
- Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động. Chủ thể pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể thực hiện pháp luật được. Ví dụ, tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép nhận chìm ở biển có nghĩa vụ thực hiện đúng nội dung của Giấy phép nhận chìm ở biển; Nộp lệ phí cấp phép và tiền sử dụng khu vực biển để nhận chìm; Cung cấp đầy đủ và trung thực dữ liệu, thông tin về hoạt động nhận chìm ở biển khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; Thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường biển do hoạt động nhận chìm của mình gây ra theo quy định của pháp luật; Các cá nhân, tổ chức thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ, chủ động làm những gì mà pháp luật quy định phải làm. - Sử dụng pháp luật là khả năng của các chủ thể pháp luật có thể sử dụng khai thác hay không sử dụng, khai thác, hưởng quyền mà luật đã dành Luan van 11 cho mình.
Ví dụ: tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép nhận chìm ở biển được nhận chìm ở biển theo nội dung của Giấy phép nhận chìm ở biển; được Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp; được quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong việc nhận chìm ở biển bồi thường thiệt hại. Nét đặc biệt của hình thức thực hiện pháp luật này so với tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật là chủ thể pháp luật có thể thực hiện hay không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép còn ở hai hình thức trên, việc thực hiện mang tính bắt buộc; Các cá nhân, tổ chức kiềm chế để không làm những điều mà pháp luật cấm. - Áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên các quy định của pháp luật để giải quyết, xử lí những vấn để cụ thể thuộc trách nhiệm của mình. Các cơ quan, công chức có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hoặc thay đổi việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức trong quá trình thực hiện pháp luật về nhận chìm vật chất ở biển.
Ví dụ: cơ quan quản lý nhà nước sẽ thu hồi giấy phép nhận chìm ở biển khi phát hiện tổ chức, cá nhân có hành vi nhận chìm không đúng nội dung của Giấy phép nhận chìm ở biển gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tài nguyên, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, hệ sinh thái biển; hoặc lợi dụng việc nhận chìm để sử dụng khu vực biển vào mục đích khác.