Tổng quan nghiên cứu

Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam với các sản phẩm xuất khẩu hiện diện tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Tỉnh Quảng Ninh sở hữu tiềm năng vượt trội về kinh tế biển với tổng sản lượng thủy sản năm 2021 đạt 32.838 tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt 21.236 tấn và diện tích nuôi trồng mở rộng lên 6.184 ha. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu thủy sản của địa phương đang đối diện với các rào cản kỹ thuật khắt khe về an toàn thực phẩm, kiểm dịch dịch tễ từ các thị trường nhập khẩu lớn, sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia như Thái Lan, Trung Quốc cùng điểm nghẽn nội tại về công nghệ chế biến sâu và năng lực quản lý nhà nước tại cơ sở.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước nhằm tháo gỡ các rào cản, tối ưu hóa chuỗi giá trị và thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của tỉnh Quảng Ninh phát triển bền vững. Mục tiêu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận quản lý nhà nước đối với xuất khẩu thủy sản; phân tích, đánh giá thực trạng quản lý và hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2017 - 2021; nhận diện nguyên nhân của các tồn tại; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý nhà nước đồng bộ giai đoạn 2023 - 2030.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn tỉnh Quảng Ninh với các địa bàn trọng điểm như Móng Cái, Vân Đồn, Đầm Hà, Hải Hà, Quảng Yên; thời gian khảo sát từ năm 2017 đến năm 2021; nội dung xoay quanh công tác quản lý từ quy hoạch vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng chế biến đến xúc tiến thương mại các mặt hàng chủ lực như tôm, cá, mực và nhuyễn thể. Ý nghĩa nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn cao khi cung cấp cơ sở khoa học giúp nâng tỷ trọng đóng góp của kinh tế biển trong GRDP tỉnh, hỗ trợ hơn 670 doanh nghiệp xuất nhập khẩu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế của Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2020), xác định quản lý nhà nước là quá trình các cơ quan công quyền sử dụng công cụ hành chính, pháp lý và đòn bẩy kinh tế (thuế, tín dụng, quy hoạch hạ tầng) để định hướng, điều tiết và hỗ trợ các chủ thể kinh doanh đạt mục tiêu tăng trưởng vĩ mô. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp mô hình kim cương của Michael Porter và mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế để phân tích các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu thủy sản, bao gồm: điều kiện nhân tố sản xuất, cấu trúc ngành công nghiệp phụ trợ, chiến lược doanh nghiệp và vai trò kiến tạo của chính quyền địa phương.

Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm:

  • Quản lý nhà nước đối với xuất khẩu thủy sản: Sự tác động có tổ chức, liên tục bằng pháp luật và chính sách của bộ máy nhà nước lên chuỗi hoạt động từ nuôi trồng, khai thác, chế biến đến thông quan xuất khẩu.
  • Rào cản kỹ thuật thương mại: Các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật và tiêu chuẩn chất lượng do quốc gia nhập khẩu ban hành nhằm bảo vệ người tiêu dùng và thị trường nội địa.
  • Chuỗi giá trị thủy sản xuất khẩu: Hệ thống tích hợp các khâu từ cung ứng con giống, thức ăn, nuôi trồng thâm canh đến chế biến sâu, logistics và phân phối toàn cầu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2017 - 2021 được thu thập từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Sở Công Thương, Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh, Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh (2021) và các báo cáo xuất khẩu từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP).

Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 673 doanh nghiệp đăng ký làm thủ tục hải quan xuất nhập khẩu thường xuyên và các cơ sở chế biến thủy sản chủ lực tại các huyện thị ven biển. Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian giai đoạn 2017 - 2021, so sánh tốc độ tăng trưởng liên hoàn và tổng hợp định tính dựa trên phỏng vấn chuyên gia quản lý công.

Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đảm bảo tính bao quát, đo lường chính xác các chỉ tiêu định lượng về sản lượng, kim ngạch, biến động vốn đầu tư và cơ cấu lao động, đồng thời đánh giá sát thực tế hiệu lực thi hành các văn bản pháp quy như Luật Thủy sản năm 2017 (Luật số 18/2017/QH14) và Nghị định số 6/2019/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu lao động ngành thủy sản Quảng Ninh có sự chuyển biến tích cực theo hướng chuyên môn hóa nuôi trồng. Giai đoạn 2017 - 2021, tỷ trọng lao động nuôi trồng tăng mạnh từ 36,09% lên 50,98% trong tổng số 38.243 lao động ngành thủy sản, trong khi tỷ trọng lao động đánh bắt tự nhiên giảm từ 42,89% xuống 31,89%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề toàn tỉnh đạt trên 48% với 19.900 người được cấp chứng chỉ vào năm 2020.

Thứ hai, sản lượng và diện tích nuôi trồng tăng trưởng liên tục nhưng tỷ lệ khai thác tiềm năng tự nhiên còn thấp. Tổng diện tích nuôi trồng tăng từ 5.304 ha lên 6.184 ha, đạt tốc độ tăng bình quân 11,06%/năm; sản lượng thủy sản tăng từ 28.736 tấn lên 32.838 tấn. Tuy nhiên, diện tích đưa vào khai thác thực tế năm 2021 mới đạt khoảng 25% trên tổng số 27.890 ha diện tích có khả năng nuôi trồng trên toàn tỉnh (trong đó diện tích nước mặn, nước lợ chiếm 7.830 ha và nước ngọt chiếm 20.973 ha).

Thứ ba, cơ sở hạ tầng chế biến sâu và nguồn vốn đầu tư công cho thủy sản còn khiêm tốn. Toàn tỉnh chỉ có 3 nhà máy chế biến quy mô công nghiệp với tổng công suất đạt 8 tấn/ngày. Nguồn vốn đầu tư vào ngành thủy sản năm 2019 chỉ chiếm 2,74% tổng vốn đầu tư toàn tỉnh, tạo nên rào cản lớn cho việc gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu.

Thứ tư, tính bền vững của chuỗi cung ứng trước rủi ro thị trường còn mong manh. Tháng 4/2020, việc thị trường Trung Quốc tạm dừng thông quan tiểu ngạch do dịch bệnh đã dẫn đến tình trạng ùn ứ nghiêm trọng tại các vùng nuôi: 3.000 tấn ngao hai cùi và 4.500 tấn hàu Thái Bình Dương tại Vân Đồn, Hải Hà và Quảng Yên không thể tiêu thụ kịp thời.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các hạn chế xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, cơ chế tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi còn phức tạp và sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý nông nghiệp, công thương và hải quan đôi lúc chưa liền mạch. So sánh với các bài học kinh nghiệm tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Kiên Giang, Quảng Ninh còn thiếu các quỹ hỗ trợ xuất khẩu chuyên biệt và các khu chế biến tập trung quy mô lớn để chủ động ứng phó với các cú sốc thương mại quốc tế.

Ý nghĩa của phát hiện nghiên cứu khẳng định tính cấp thiết phải chuyển đổi mô hình quản lý từ tiền kiểm hành chính sang hậu kiểm tiêu chuẩn chất lượng, chuyển dịch mạnh từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch để đón đầu ưu đãi từ các hiệp định EVFTA và CPTPP.

Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện này được mô tả tối ưu thông qua biểu đồ cột thể hiện sự dịch chuyển tỷ trọng lao động (đánh bắt giảm 11%, nuôi trồng tăng gần 15%) kết hợp bảng cân đối nguồn vốn đầu tư công, giúp các nhà quản lý nhận diện trực quan điểm nghẽn hạ tầng và tài chính của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch không gian nuôi trồng và khu chế biến thủy sản tập trung. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phê duyệt đề án quy hoạch không gian biển đến năm 2025, phấn đấu nâng tỷ lệ sử dụng mặt nước nuôi trồng từ 25% lên tối thiểu 40% (tương đương trên 11.000 ha), tập trung mở rộng các vùng nuôi tôm công nghệ cao và nhuyễn thể tại Đầm Hà, Vân Đồn, Móng Cái.

Thứ hai, đổi mới chính sách ưu đãi tài chính, đất đai và tín dụng đầu tư. Sở Tài chính phối hợp với các ngân hàng thương mại triển khai gói hỗ trợ bù lãi suất vay trung và dài hạn (thời gian hỗ trợ tối đa 9 năm, hạn mức vay tối đa 70% tổng mức đầu tư) cho các dự án xây dựng nhà máy chế biến sâu đạt công suất trên 20 tấn/ngày giai đoạn 2023 - 2026. Đồng thời, thực hiện miễn, giảm tiền thuê đất và mặt nước 20% trong 5 năm đầu cho doanh nghiệp liên kết chuỗi nguyên liệu theo Nghị định 17/2018/NĐ-CP.

Thứ ba, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và chuyển đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu. Sở Công Thương tỉnh Quảng Ninh chủ trì xây dựng đề án xúc tiến thương mại quốc tế giai đoạn 2023 - 2030, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu chỉ dẫn địa lý cho thủy sản Quảng Ninh, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chính ngạch sang thị trường EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ đạt từ 12% đến 15%/năm.

Thứ tư, siết chặt công tác thanh tra, kiểm soát an toàn dịch tễ và chất lượng sản phẩm. Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản phối hợp cùng Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh thiết lập hệ thống giám sát chuỗi cung ứng, đảm bảo 100% cơ sở sơ chế, đóng gói và doanh nghiệp xuất khẩu đạt chứng nhận HACCP, ISO 22000 trước năm 2025, xử lý nghiêm các vi phạm về dư lượng kháng sinh và gian lận xuất xứ hàng hóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương Quảng Ninh): Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng các văn bản quy phạm, điều chỉnh quy hoạch phân khu vùng nước và phân bổ nguồn vốn đầu tư công cho thủy sản giai đoạn 2023 - 2030.

  2. Doanh nghiệp và Hợp tác xã chế biến, xuất khẩu thủy sản: Giúp cập nhật hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc tế, nắm bắt các chính sách ưu đãi thuế quan và tín dụng để tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao công suất nhà máy vượt mức 8 tấn/ngày và mở rộng thị trường chính ngạch.

  3. Các tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư phát triển: Nắm bắt bức tranh toàn cảnh về nhu cầu vốn đầu tư đóng mới tàu thuyền công suất trên 400CV, nâng cấp ao đầm nuôi trồng và tài trợ các dự án chuỗi giá trị thủy sản với hạn mức lên đến 70% tổng vốn vay.

  4. Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu kinh tế: Làm tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu quản lý kinh tế biển tại địa phương ven biển, kết hợp khung lý thuyết kinh tế học với việc xử lý dữ liệu chuỗi thời gian thực tế tại 673 doanh nghiệp hải quan.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hoạt động xuất khẩu thủy sản của tỉnh Quảng Ninh gặp những nút thắt chính nào trong giai đoạn 2017 - 2021? Nút thắt cốt lõi bao gồm năng lực chế biến sâu còn hạn chế với vỏn vẹn 3 nhà máy đạt công suất 8 tấn/ngày, tỷ lệ khai thác tiềm năng mặt nước nuôi trồng mới đạt 25% trên 27.890 ha, vốn đầu tư dành cho thủy sản chiếm chưa tới 3% toàn tỉnh và sự phụ thuộc quá mức vào xuất khẩu tiểu ngạch khiến 7.500 tấn nhuyễn thể bị ùn tắc năm 2020.

  2. Cơ cấu lao động ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh biến động như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu? Lao động ngành thủy sản chuyển dịch mạnh mẽ từ đánh bắt tự nhiên sang nuôi trồng có kiểm soát. Tỷ trọng lao động khai thác giảm từ 42,89% xuống 31,89%, trong khi lao động nuôi trồng tăng từ 36,09% lên 50,98% tổng số 38.243 lao động toàn ngành, cùng với việc tỉnh đào tạo nghề cho hơn 13.200 lao động nông thôn.

  3. Luận văn đề xuất các cơ chế tài chính cụ thể nào để khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản? Nghiên cứu đề xuất hỗ trợ chênh lệch lãi suất vay thương mại tối đa 9 năm với hạn mức lên đến 70% tổng vốn đầu tư, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho hoạt động khai thác xa bờ bằng tàu có công suất từ 400CV trở lên và hỗ trợ tối đa 20% tiền thuê đất, mặt nước trong 5 năm đầu tiên.

  4. Vì sao Quảng Ninh cần đẩy mạnh chuyển dịch sang xuất khẩu chính ngạch? Xuất khẩu chính ngạch giúp loại bỏ rủi ro gián đoạn biên mậu tiểu ngạch từng khiến 3.000 tấn ngao và 4.500 tấn hàu tồn đọng, đồng thời cho phép doanh nghiệp tận dụng triệt để các ưu đãi thuế quan từ EVFTA, nâng cao giá trị gia tăng và khẳng định vị thế thương hiệu thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

  5. Bộ máy quản lý nhà nước tại địa phương phối hợp như thế nào trong kiểm soát xuất khẩu thủy sản? Bộ máy vận hành thông qua sự phân công chuyên môn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý vùng nuôi, giống và an toàn dịch tễ; Sở Công Thương quản lý thương mại và rào cản thị trường; Cục Hải quan tỉnh thực hiện thủ tục thông quan cho 673 doanh nghiệp; tất cả đặt dưới sự điều hành tập trung của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung khổ pháp lý về quản lý nhà nước đối với xuất khẩu thủy sản trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế thủy sản Quảng Ninh giai đoạn 2017 - 2021 với tổng sản lượng đạt 32.838 tấn và diện tích nuôi trồng tăng trưởng bình quân 11,06%/năm.
  • Nhận diện các điểm nghẽn chiến lược về công suất chế biến (8 tấn/ngày), nguồn vốn đầu tư công (chiếm 2,74% toàn tỉnh) và tỷ lệ sử dụng mặt nước tiềm năng (25%).
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về quy hoạch vùng nuôi công nghệ cao, cơ chế hỗ trợ tài chính - thuế, xúc tiến thương mại chính ngạch và kiểm soát an toàn thực phẩm.
  • Xác định rõ lộ trình triển khai giai đoạn 2023 - 2030 gắn liền trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, các Sở ban ngành chuyên trách và cộng đồng hơn 670 doanh nghiệp xuất khẩu.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp khung giải pháp quản lý kinh tế mang tính thực tiễn cao, hỗ trợ đắc lực cho việc hoàn thiện cơ chế điều hành phát triển thủy sản tại tỉnh Quảng Ninh. Các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp thực thi đồng bộ các giải pháp này nhằm tạo bước đột phá vững chắc cho ngành xuất khẩu thủy sản địa phương trong giai đoạn tới.