Chương I. TONG QUAN TAI LIEU 1. Tài liệu trong nước Trần Hàn Việt (2014) đã viết bài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai chương trình nhãn sinh thái ở Việt Nam”. Bài viết đã phân tích khái quát về nhãn sinh thái và các vấn đề chung liên quan trong giai đoạn thử nghiệm tháng 3 năm 2009 đến 2014 tại Việt Nam.
Đồng thời tác giả phân tích các chương trình nhãn sinh thái ở các quốc gia khác trên thế giới nhằm rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam. Tác giả chỉ ra việc cần chú ý xây dựng mô hình tô chức, cách thức lựa chọn sản phẩm, các tiêu chí đánh gia sản phẩm Và SỰ hợp tác trong các chương trình nhãn sinh thái giữa các nước với nhau. Thông qua các vấn đề trên, tác giả đánh giá chương trình nhãn sinh thái của Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và đồng thời đưa ra giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn đó. Tác giả đã đưa ra một số giải pháp về quy trình lựa chọn sản phẩm, cơ cấu tổ chức,.
nhằm nâng cao hiệu quả chương trình nhãn sinh thái. Bài viết đã có sự mới mẻ trong việc phân tích bức tranh nhãn sinh thái của Việt Nam một cách toàn diện dé có cái nhìn khách quan. Tuy nhiên bài chưa nhiêu sô liệu cu thê đê minh họa cho các luận diém của minh. Bài viết “Nhãn sinh thái" con dau xanh" của Mỹ và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Khải xuất bản năm 2005 đã phân tích nhãn sinh thái đưới góc nhìn của các doanh nghiệp.
Bài viết đã phân tích cụ thé chương trình nhãn sinh thái của Mỹ dé có thé đưa ra những kinh nghiệm cho Việt Nam. Bài viết đã nêu các vấn đề liên quan đến nhãn sinh thái của Mỹ như: cơ cau tổ chức của Hội đồng nhãn sinh thái, việc lựa chọn sản phẩm, thiết lập tiêu chí, tính công khai và việc tư vấn, việc đăng ký và cấp giấy phép cũng như hiệu quả của nhãn sinh thái. Bài chỉ ra chương trình nhãn sinh thái sẽ ảnh hưởng đến thị trường, môi trường cũng như hoạt động thương mại. Theo đó, ảnh hưởng đến thị trường và môi trường là tích cực, còn thương mại đang là tiêu cực.
Từ đó bài đưa ra một số giải pháp cho Việt Nam dựa vào kinh nghiệm của Mỹ. Hạn chế của bài là mới chỉ áp dụng cho tình trạng chung của các nước kém phát triển như Việt Nam lúc bấy giờ mà chưa thê áp dụng cụ thể vao tình huống cụ thé của Việt Nam. Năm 2005, TS Nguyễn Hữu Khải lại có bài “Nhãn sinh thái kiểu I (ISO 14024) và khả năng áp dụng đối với hàng hóa xuất nhập khẩu ở Việt Nam”. Bài này tác giả tập trung phân tích chủ yếu về khả năng áp dụng nhãn sinh thái kiểu I với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Nhãn sinh thái I là nhãn được sử dụng nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết được sản phẩm đáp ứng các tiêu chí trong vòng đời của sản phẩm. Bài chỉ ra vòng đời sản phâm gồm: khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất, phân phối, sử dụng và hủy bỏ. Bài đã chỉ ra tác động môi trường trong một vài giai đoạn là không đáng ké, còn các giai đoạn khác cần nghiên cứu sâu hơn. Tác giả đã chỉ ra dé chương trình nhãn sinh thái I thành công cần đạt được những tiêu chí gì.
Đồng thời bài cũng đánh giá tác động của chương trình nhãn sinh thái I tới hoạt động thương mại và trao đổi hàng hóa áp nhãn sinh thái. Theo đó, việc áp dụng nhãn sinh thái sẽ giúp mang hàng hóa xuất khẩu có thể vào được những thị trường nước ngoài khó tính. Theo nghiên cứu, Việt Nam là nước có cả thuận lợi khách quan và chủ quan trong việc áp dụng nhãn sinh thái I vào các mặt hàng xuât khâu.TS Nguyễn Thi Hường năm 2011 đã có bài viết “Cap và dán nhãn sinh thái: Giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường”. Bài đã chỉ ra ba tác động tích cực mà nhãn sinh thái có thé tạo nên dé bảo vệ môi trường.
Trong đó nôi bật là việc tạo động lực thúc đây quá trình đôi mới cơ sở vật chất kỹ thuật, công 10 nghệ của các doanh nghiệp nhằm giảm mức độ ảnh hưởng đến môi trường. Nhận thức về nhãn sinh thái của người Việt Nam còn thấp nên nâng cao nhận thức về vai trò của nhãn sinh thái là một vấn đề quan trọng cần phải thực hiện. Nhân thức về nhãn sinh thái phải bao gồm các đối tượng sau: các doanh nghiệp, người tiêu dùng Việt Nam và các đội ngũ quản lý môi trường. Các doanh nghiệp quan tâm đến nhãn sinh thái nhằm vượt qua rào cản kỹ thuật đối với các thị trường xuất khẩu khó tính.
Người tiêu dùng Việt Nam nhận thức rõ lợi ích của nhãn sinh thái thì họ mới có thé sẵn sang chi trả mức cao cho các sản phâm “xanh”. Đội ngũ quản lý môi trường cần nâng cao nhận thức dé có khả năng quản lý các nhãn sinh thái, các yêu cầu đặt ra nhằm thực hiện nhãn sinh thái. Bài cũng nêu ra một số chính sách gợi mở nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện chương trình nhãn sinh thái. Tac giả nghiên cứu bai khi chương trình cấp nhãn sinh thái dự định được đưa vào quản lý môi trường vào năm 2012 nên nó đã có tính áp dụng vào thực tế.TS Lưu Đức Hải và các cộng sự đã có bài nghiên cứu “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn của việc đăng ký và cấp nhãn sinh thái cho các sản phẩm tiêu dùng ở Việt Nam” vào năm 2005.
Bài viết đã tổng quan tình hình đăng ký nhãn sinh thái ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như quy định của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế. Bài viết cũng sử dụng phương pháp đánh giá vòng đời của sản phâm nhằm đánh giá hai sản pham cụ thé thân thiện với môi trường là rau sạch ở Hà Nội va tủ lạnh không chứa CFC của nhãn hàng LG. Kết quả đánh giá cho thấy rau sạch ở Hà Nội dat đủ tiêu chí dé có thé cấp nhãn sinh thái. Tuy nhiên tủ lạnh CFC của nhãn hàng LG vòng đời chủ yếu ở lắp ráp các chi tiết linh kiện nhập khẩu nên không đủ tiêu chí dé đánh giá.
Bài còn đề xuất hai mô hình cấp nhãn sinh thái: mô hình có tổ chức cấp nhãn độc lập và mô hình không có tô chức cấp nhãn độc lập. Tác giả cũng phác họa bức 11 tranh về tiến trình thực hiện nhãn sinh thái từ năm 2005 đến năm 2010, trong đó có mở rộng diện đăng ký nhãn sinh thái cho tất cả các sản phẩm xuất khâu trong năm 2010. Trần Thị Duyên đã nghiên cứu cơ hội để xâm nhập sâu vào thị trường Châu Au trong bài viết “Cac yêu cầu cần thiết để doanh nghiệp xuất khâu thủy sản sang Châu Âu” năm 2018. Mục tiêu nghiên cứu của tác giả là phân tích các yêu cầu của thị trường Châu Âu đối với thủy sản, cụ thé là yêu cầu bắt buộc, yêu cầu chung và yêu cầu của thị trường ngách.
Theo tác giả, dán nhãn sinh thái cho thủy sản là yêu cầu của thị trường ngách. Các thị trường Tây và Bac Âu có sản phẩm dán nhãn sinh thái chiếm thị phần lớn. Dé có thé xâm nhập sâu vào các thị trường nảy tác giả khuyến khích ngư dân dán nhãn MSC và ASC. Nhãn MSC là nhãn dành cho thủy sản được đánh bắt tự nhiên, còn ASC là nhãn dành cho thủy sản được nuôi trồng.
Điểm chung của hai nhãn này đêu được sử dụng nhăm quản lý tài nguyên biên bên vững. Tài liệu nước ngoài Dorethée Brécard và các cộng sự năm 2009 đã viết bài “Determinants of demand for green products: An application to eco-label demand for fish in Europe”. Trong bài báo này, các tác giả dé cập đến các động cơ lý thuyết của việc tiêu thụ các sản phẩm thân thiện với môi trường và các yêu tố ảnh hưởng đến nhận thức của người châu Âu về thực tế là “cá được đánh bắt bằng kỹ thuật thân thiện với môi trường có thể mang nhãn đặc biệt”. Các tác giả sử dụng sự kết hợp của các yếu tố phi kinh tế trong phân tích kinh tế vi mô về hành vi của người tiêu dung dé làm nổi bật các nhân tố dẫn đến nhu cầu của họ đối với các sản phẩm xanh.
Nhờ một cuộc khảo sát ban đầu của châu Âu về sản phẩm thủy sản được thực hiện trên hon 5000 người tiêu dùng, các tác 12 giả đã kiểm tra ảnh hưởng của động lực nội tại, thông tin, nội địa hóa và các yếu tô kinh tế xã hội đối với nhu cầu về nhãn sinh thái cho cá. Kết quả cho thấy mối liên hệ đặc trưng giữa mong muốn dán nhãn sinh thái và các đặc điểm của hải sản, đặc biệt là độ tươi của cá, nguồn gốc của cá (cá được đánh bắt tự nhiên hay được nuôi). Hơn nữa, Nghiên cứu đã chứng minh vai trò chính của giá cá. Đồng thời cũng chứng minh rằng vấn đề sinh thái liên quan đến nghề cá có mối liên hệ chặt chẽ với thông tin người tiêu dùng, động cơ nội tại và tình trạng kinh tế xã hội: “người tiêu dùng cá xanh” điển hình là phụ nữ trẻ, được giáo dục tốt, được thông tin đầy đủ về tình trạng tài nguyên biển và không tin tưởng hoàn toàn vào các quy định của ngành thủy sản.
Người tiêu dùng nhận thức được tầm quan trọng của việc bao tồn tài nguyên biển cũng có chung một trình độ học vân. Năm 2014, Lucy Atkinson và Sunny Rosenthal đã có bải nghiên cứu “Signaling the Green Sell: The Influence of Eco-Label Source, Argument Specificity, and Product Involvement on Consumer Trust”. Người tiêu dùng không thể xác minh các thuộc tính xanh trực tiếp và phải dựa vào các tín hiệu như nhãn sinh thái để xác thực các tuyên bố. Sử dụng lý thuyết tín hiệu, nghiên cứu này khám phá khía cạnh nào của thiết kế nhãn sinh thái mang lại nhiều tác động tích cực hơn.
Nghiên cứu đã xây dựng một thử nghiệm với mẫu thử là 233 dựa vào: tính cụ thé của nhãn (cụ thé hay chung), nguồn nhãn (chính phủ hoặc doanh nghiệp) va sự liên quan đến sản phẩm (cao hay thấp). Các số liệu cụ thể luôn mang lại sự tin tưởng nhãn sinh thái cao hơn và thái độ tích cực đối với sản phẩm và nguồn nhãn, nhưng chỉ với các sản phâm có mức độ liên quan thấp mới là nguồn quan trọng, với nhãn công ty mang lại thái độ tích cực hơn. Các phát hiện được thảo luận về ý nghĩa lý thuyết và quản lý.