Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài; Chương 2 sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết của đề tài; Chương 3 tập trung phân tích môi trường kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành. Chương cuối cùng nêu đề xuất kiến nghị chính sách và kết luận các vấn đề của luận văn. 123doc 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 1. Lý thuyết về khung phân tích kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị 1.
Khái niệm về cụm ngành Cụm ngành là sự tập trung về mặt địa lý của một nhóm công ty và các thể chế liên quan, được nối kết với nhau bởi sự tương đồng và tương hỗ. Phạm vi địa lý của một cụm ngành có thể là một thành phố, một vùng, một quốc gia hay có thể là một nhóm các quốc gia1. Cấu trúc của cụm ngành rất đa dạng gồm: Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng, các doanh nghiệp ở thượng nguồn và hạ nguồn, các doanh nghiệp cung ứng chuyên biệt, các đơn vị cung cấp dịch vụ và các ngành liên quan về sản xuất, công nghệ, quan hệ khách hàng, các thể chế hỗ trợ (tài chính, giáo dục, nghiên cứu và cơ sở hạ tầng)2. Cụm ngành ra đời và phát triển sẽ giúp cho các doanh nghiệp gia tăng ưu thế cạnh tranh nhờ vào khả năng thúc đẩy đổi mới, gia tăng năng suất và thúc đẩy thương mại hóa cũng như tạo cơ hội cho doanh nghiệp mới ra đời3.
Cụm ngành gia tăng năng suất bằng cách tăng tiếp cận với các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, dịch vụ, thông tin, kĩ năng, lao động …), giảm chi phí giao dịch, tăng động cơ và năng lực cạnh tranh, tăng sức ép đổi mới và nhu cầu chiến lược phân biệt hóa sản phẩm. Cụm ngành tăng cường khả năng đổi mới nhờ sự hiện hữu của nhiều nhà cung ứng, các chuyên gia hàng đầu và các thể chế hỗ trợ. Ngoài ra, cụm ngành phát triển thúc đẩy cơ hội đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường. Cụm ngành khuyến khích các doanh nghiệp mới ra đời trong hệ thống cụm ngành nhờ các nguồn lực về tài chính và kĩ năng, các mối quan hệ thương mại và sự gia tăng nhu cầu.
Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu Chuỗi giá trị mô tả toàn bộ các hoạt động cần thiết của một chu trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ từ các giai đoạn nghiên cứu đến các giai đoạn trong quá 1 Vũ Thành Tự Anh (2012, tr. 2 Porter, 2008, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012. 3 Porter, 2008, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012. 123doc 6 trình sản xuất, phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối, sau cùng là xử lý rác thải sau sử dụng4.
Nếu một chuỗi giá trị sản phẩm có hoạt động diễn ra qua nhiều nước trên phạm vi toàn cầu thì được gọi là chuỗi giá trị toàn cầu, là chuỗi cho phép các công đoạn của nó được thực hiện tại các địa điểm, quốc gia khác nhau với hiệu quả cao nhất và chi phí thấp nhất. Cấu trúc của một chuỗi giá trị điển hình rất phức tạp, thường có bốn phân khúc: Thiết kế, sản xuất, tiếp thị, tiêu dùng và tái chế. Đường cong nụ cười Mức độ phân bố giá trị các khâu trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) của một số mặt hàng được các nhà nghiên cứu mô phỏng qua dạng Parabol ngửa (còn gọi là đường cong nụ cười) như mô hình bên dưới: Hình 0-1. Đường cong nụ cười Nguồn: Vũ Thành Tự Anh, Lý thuyết kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị (2012, tr.30) 4 Kaplinsky, 2000, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012.
123doc 7 Theo mô hình trên, các khâu trong chuỗi có giá trị cao là các khâu thiết kế và khâu tiêu thụ. Mục tiêu của các doanh nghiệp và các quốc gia là dịch chuyển sản xuất từ các khâu có giá trị thấp (ở giữa đường cong) sang các khâu có giá trị cao (hai bên của đường cong). Đây là một mục tiêu khó đạt được trong thời gian ngắn vì khâu thiết kế đòi hỏi nhiều kiến thức và thông tin, trong khi khâu tiêu thụ khá phức tạp gồm nhiều hoạt động khác nhau như: Thiết kế kênh tiêu thụ, chiến lược giá cả, quảng bá… Các quốc gia khi tham gia vào chuỗi giá trị cần định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh để dịch chuyển lên các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn hoặc phòng bị để không bị loại ra khỏi chuỗi mà họ tham gia. Cách tiếp cận kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị Hai cách tiếp cận cụm ngành và chuỗi giá trị dường như mâu thuẫn nhau nếu ta xét riêng lẻ chúng.
Vì cụm ngành nhấn mạnh đến vai trò tương tác giữa các công ty và thể chế ở địa phương, trong khi chuỗi giá trị lại xem xét tương tác giữa các thành viên trong chuỗi trên khắp thế giới. Tuy nhiên, nếu kết hợp hai cách tiếp cận này thì chúng có thể bổ sung ưu điểm và bổ khuyết cho nhau. Cụ thể, các doanh nghiệp trong cụm ngành phải tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, phụ thuộc vào các doanh nghiệp nhập khẩu và người mua toàn cầu trong khi các lý thuyết về cụm ngành không đề cập đến sự tương tác với môi trường bên ngoài. Ngược lại, các thành viên trong chuỗi giá trị đều chịu tác động trực tiếp của các nhân tố địa phương như môi trường cạnh tranh, thị trường lao động, cơ sở hạ tầng sản xuất và giao thông công cộng nhưng lý thuyết chuỗi bỏ qua những tương tác này.
Cách kết hợp trên giúp cho các nhà nghiên cứu có tầm nhìn tổng quan, xem xét sự hỗ trợ giữa các thành phần trong cụm ngành, định hướng doanh nghiệp tiến xa hơn về hai đầu của đường cong nụ cười, tiếp cận các hoạt động trong chuỗi có giá trị gia tăng cao. Đây là một công cụ hiệu quả để nâng cấp hoạt động và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Khung phân tích mô hình kim cương của Michael Porter Hình 0-2. Mô hình kim cương của Michael Porter Nguồn: Porter (2008, tr.227) Bốn thuộc tính của một quốc gia định hình môi trường kinh doanh và tạo thành liên kết “hình thoi” là: Điều kiện về yếu tố sản xuất, các điều kiện cầu, các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa (Hình 2-2).
Các điều kiện về yếu tố sản xuất gồm: Vị trí địa lý, nguồn nhân lực, nguồn tài sản vật chất, nguồn kiến thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng. Doanh nghiệp một nước được lợi thế cạnh tranh khi các yếu tố sản xuất tạo điều kiện thuận lợi với chi phí thấp và chất lượng cao5. Các điều kiện cầu gồm: Kết cấu, quy mô và hình mẫu tăng trưởng của cầu trong nước, mức độ đòi hỏi của khách hàng, cầu trong nước dự báo cầu ở các thị trường tiêu thụ. Nếu cầu trong nước chậm phản ứng với những nhu cầu mới ở 5 Porter (2008) 123doc 9 nước khác thì các công ty nội địa sẽ bất lợi vì các quốc gia khác thích nghi sớm hơn và dễ dàng chiếm lĩnh thị trường với ưu thế thay đổi và hoàn thiện chất lượng sản phẩm trước.
Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên khả năng cạnh tranh quốc tế của một quốc gia6. Điển hình như Thụy Điển lớn mạnh về sản phẩm thép chế tạo (vòng bi và máy cắt) nhờ vào sự phát triển của các ngành thép đặc biệt. Porter cũng nêu trong “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” rằng lợi ích của các ngành phụ trợ nằm trong quá trình đổi mới và cải tiến. Mối quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà sản xuất giúp cho các công ty áp dụng các phương pháp và công nghệ mới từ nhà cung cấp địa phương.
Ngược lại, các công ty ảnh hưởng đến nỗ lực cải tiến kĩ thuật công nghệ của nhà cung cấp và trở thành người kiểm tra đầu ra sản phẩm. Nhân tố có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành là chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa. Cụ thể, đó là hoàn cảnh mà các công ty được hình thành, tổ chức và quản lý cũng như bản chất cạnh tranh trong nước7. Ví dụ các công ty Ý đứng hàng đầu thế giới trong nhiều ngành bị phân đoạn, như: Đèn chiếu sáng, đồ nội thất, giày.
Công ty Ý cạnh tranh với chiến lược phân biệt hóa sản phẩm và chọn thị trường chuyên biệt, nhỏ với phong cách riêng của mình. Cạnh tranh nội địa buộc công ty giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và sáng tạo quá trình sản xuất mới với công nghệ cải tiến. Phương pháp CCED Tác giả sử dụng phương pháp CCED trong nghiên cứu về Phát triển kinh tế thành phố dựa vào cụm ngành (Cluster –based City Economic Development), một hệ thống gồm 39 nhân tố để đo lường năng lực cạnh tranh của cụm ngành ở Châu Á8. Các nhân tố được chia thành 5 nhóm theo mô hình kim cương của Porter: Các điều kiện về nhân tố sản xuất, các điều kiện cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ có 6 Porter (2008) 7 Porter (2008) 8 Choe, Roberts và các cộng sự, 2011, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012.
123doc 10 liên quan, chiến lược, cấu trúc và đối thủ cạnh tranh, vai trò của chính quyền9. Tác giả lấy ý kiến đánh giá mức độ cạnh tranh của 39 nhân tố theo thang điểm từ 1 đến 5 (thang đo Likert) từ một số chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp. Nếu điểm trung bình tổng lớn hơn 3,75 thể hiện cụm ngành rất mạnh và có sức cạnh tranh quốc tế; điểm 3,0 cho thấy cụm ngành có sức cạnh tranh trong nước; điểm 2,5 chứng tỏ cụm ngành nhỏ, mới nổi và mạnh trong một vùng; điểm 2,0 trở xuống thể hiện cụm ngành yếu và mới được hình thành. Tốt Khá Trung bình Kém Hình 0-3.
Sơ đồ kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị xuất khẩu tôm sú Nguồn: Tác giả tự vẽ Chú thích: Cụm ngành tôm sú xuất khẩu: Các thành phần trong khung gạch nối màu đỏ. Chuỗi giá trị tôm sú xuất khẩu: Các thành phần trong khung gạch nối màu xanh. 123doc 11 CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH TÔM SÚ TỈNH CÀ MAU 3. Quá trình hình thành và lịch sử phát triển của cụm ngành Hình 3-1.
Diện tích mặt nước nuôi thủy sản của Cà Mau so với các vùng trong nước Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Cà Mau Cụm ngành ban đầu hình thành từ điều kiện đất đai và khí hậu rất thích hợp với tôm sú (tên khoa học là: Penaeus monodon).