phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chuyên đề có cấu trúc gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH xây dựng và tƣ vấn môi trƣờng Viên Bách, thành phố Châu Đốc Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH xây dựng và tƣ vấn môi trƣờng Viên Bách, thành phố Châu Đốc. 4 Luan van CHƢƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Kinh tế thị trƣờng đƣợc xem là nền kinh tế năng động nhất, mang lại nhiều thành tựu đóng góp cho sự phát triển của văn minh nhân loại. Kinh tế thị trƣờng vận động dƣới sự tác động tổng hợp của các quy luật kinh tế khách quan, trong đó phải kể đến quy luật cạnh tranh. Quy luật này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự thích nghi với những biến chuyển của nền kinh tế để tồn tại và phát triển.
Cạnh tranh đã, đang và sẽ là vấn đề đƣợc quan tâm nghiên cứu cả trên lý luận và trong thực tiễn nhằm vận dụng ngày càng hiệu quả quy luật này phục vụ cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh 1.1 Khái niệm Cạnh tranh là một thuật ngữ đã đƣợc nhắc đến nhiều hơn tại Việt Nam trong những năm gần đây. Nhất là khi tự do hóa thƣơng mại ngày càng đƣợc mở rộng thì cạnh tranh là cách thức để doanh nghiệp đứng vững và phát triển. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh đƣợc các nhà nghiên cứu đƣa ra. Theo kinh tế học định nghĩa: Cạnh tranh là sự giành giật thị trƣờng để tiêu thụ hàng hóa giữa các doanh nghiệp.
Ở đây, định nghĩa mới chỉ đề cập đến cạnh tranh trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa (Trần Thị Lan Hƣơng, 2009). Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Dƣơng Ngọc Dũng, 2010).
5 Luan van Khi nghiên cứu về cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa Mác cũng đƣa ra khái niệm: Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, ngƣời tiêu dùng, thƣơng nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tƣơng đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thƣơng mại khác để thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình (Nguyễn Văn Hảo, 2011). Với nhiều cách hiểu nghĩa khác nhau, từ đó có nhiều khái niệm đƣợc đƣa ra nhƣng chung quy lại về bản chất các khái niệm đƣa ra đều thống nhất về nội dung: Cạnh tranh là mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong việc giải quyết lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và chi phối thị trƣờng. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những ngƣời lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và trong mối quan hệ với ngƣời tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác.
Quản trị chiến lƣợc là một quá trình sắp xếp linh hoạt các chiến lƣợc, tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, bao gồm nhân lực, lãnh đạo, kỹ thuật và phƣơng pháp xử lý. Quản trị chiến lƣợc là một bộ các quyết định quản trị và các hành động xác định hiệu suất dài hạn của một công ty. Quản trị chiến lƣợc bao gồm các hành động liên tục: soát xét môi trƣờng (cả bên trong lẫn bên ngoài); xây dựng chiến lƣợc; thực thi chiến lƣợc và đánh giá kiểm soát chiến lƣợc. Do đó, nghiên cứu chiến lƣợc nhấn mạnh vào việc theo dõi và đánh giá các cơ hội và đe dọa bên ngoài trong bối cảnh của các sức mạnh và điểm yếu bên trong.2 Phân loại cạnh tranh * Căn cứ tính chất cạnh tranh trên thị trƣờng - Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà trên thị trƣờng có rất nhiều ngƣời bán và ngƣời mua, mỗi ngƣời bán chỉ cung ứng một lƣợng hàng rất nhỏ trong tổng cung của thị trƣờng.
Họ luôn luôn bán hết số hàng mà họ muốn bán với giá thị trƣờng. Bất cứ doanh nghiệp nào gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trƣờng cũng không gây ảnh hƣởng tới giá cả thị trƣờng. Để tối đa hóa lợi nhuận họ chỉ còn có thể tìm mọi cách để giảm chi phí sản xuất. Trong thị trƣờng này mọi thông tin đều 6 Luan van đầy đủ và không có hiện tƣợng cung cầu giả tạo.
Khi chi phí biên của doanh nghiệp giảm xuống bằng với giá thị trƣờng doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa. - Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà mỗi doanh nghiệp đều có sức mạnh thị trƣờng (dù nhiều hay ít), họ có quyền quyết định giá bán của mình, qua đó tác động đến giá cả thị trƣờng. + Cạnh tranh độc quyền (cạnh tranh có tính độc quyền) là thị trƣờng có nhiều ngƣời bán và nhiều ngƣời mua, sản phẩm của các doanh nghiệp có thể thay thế cho nhau ở một mức độ nào đó. Bằng các biện pháp nhƣ thay đổi mẫu mã, chất lƣợng, kiểu dáng, quảng cáo thƣơng hiệu, uy tín … các doanh nghiệp cố gắng khác biệt hóa sản phẩm của mình để cạnh tranh và thu hút khách hàng.
Trong thị trƣờng này, bên cạnh các biện pháp khác biệt hóa sản phẩm, chiến lƣợc giá cả và chính sách đối với khách hàng là các vấn đề mỗi doanh nghiệp luôn quan tâm để đảm bảo khả năng cạnh tranh. + Độc quyền tập đoàn là trƣờng hợp trên thị trƣờng chỉ có một số hãng lớn bán các sản phẩm đồng nhất hoặc không đồng nhất. Họ kiểm soát gần nhƣ toàn bộ lƣợng cung trên thị trƣờng nên có sức mạnh thị trƣờng khá lớn. Các hãng trong tập đoàn có tính phụ thuộc lẫn nhau nên quyết định giá và sản lƣợng của mỗi hãng đều ảnh hƣởng trực tiếp đến hãng khác trong tập đoàn và giá thị trƣờng.
Vì vậy họ thƣờng cấu kết với nhau để thu lợi nhuận siêu ngạch. - Độc quyền hoàn toàn là hình thái thị trƣờng đối lập với cạnh tranh hoàn hảo. Chỉ có một ngƣời bán (hoặc mua) duy nhất trên thị trƣờng, hàng hóa là độc nhất và không có hàng thay thế gần gũi nên họ có sức mạnh thị trƣờng rất lớn. Doanh nghiệp độc quyền luôn quyết định giá và sản lƣợng sao cho thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch.
Nguyên nhân của độc quyền là do họ đạt đƣợc lợi thế kinh tế nhờ quy mô (độc quyền tự nhiên), hoặc do cấu kết, thôn tính, kiểm soát đƣợc đầu vào… Độc quyền luôn có những tác động xấu đến kinh tế xã hội nhƣ sản lƣợng bán thấp (không đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu dùng cho xã hội), giá quá cao và gây mất công bằng xã hội, ở một số nƣớc có luật chống độc quyền nhằm đảm bảo các lợi ích kinh tế xã hội. 7 Luan van * Căn cứ chủ thể tham gia thị trƣờng: Đây là sự cạnh tranh trong khâu lƣu thông hàng hóa nhằm tối đa hóa lợi ích cho những chủ thể tham gia cạnh tranh. - Cạnh tranh giữa ngƣời bán và ngƣời mua với đặc trƣng nổi bật là ngƣời mua luôn muốn mua rẻ và ngƣời bán luôn muốn bán đắt. Hai lực lƣợng này hình thành hai phía cung cầu trên thị trƣờng.
Kết quả sự cạnh tranh trên là hình thành giá cân bằng của thị trƣờng, đó là giá mà cả hai phía đều chấp nhận đƣợc. - Cạnh tranh giữa những ngƣời mua là sự cạnh tranh do ảnh hƣởng của quy luật cung cầu. Khi lƣợng cung một hàng hóa quá thấp so với lƣợng cầu làm cho ngƣời mua phải cạnh tranh nhau để mua đƣợc hàng hóa mà mình cần dẫn tới giá cả tăng vọt. Kết quả là ngƣời bán thu đƣợc lợi nhuận cao còn ngƣời mua phải mất thêm một số tiền.
Nhƣ vậy sự cạnh tranh này làm cho ngƣời bán đƣợc lợi và ngƣời mua bị thiệt. - Cạnh tranh giữa những ngƣời bán là sự cạnh tranh nhằm tăng sản lƣợng bán. Do sản xuất ngày càng phát triển, thị trƣờng mở cửa, lƣợng cung tăng nhanh trong khi lƣợng cầu tăng chậm dẫn tới ngƣời bán (các doanh nghiệp) phải cạnh tranh khốc liệt để giành thị trƣờng và khách hàng. Kết quả là giá cả không ngừng giảm xuống và ngƣời mua đƣợc lợi.
Doanh nghiệp nào thắng trong cuộc cạnh tranh này mới có thể tồn tại và phát triển. * Căn cứ cấp độ cạnh tranh: Đây là sự cạnh tranh diễn ra trong lĩnh vực sản xuất. - Cạnh tranh giữa các sản phẩm là sự cạnh tranh về mẫu mã, kiểu dáng, chất lƣợng, giá cả, phƣơng thức bán hàng … Sản phẩm nào phù hợp nhất với yêu cầu của khách hàng thì sản phẩm đó sẽ đảm bảo đƣợc khả năng tiêu thụ, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm và tạo cơ hội thu thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành (cạnh tranh nội bộ ngành) là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, theo quy luật, doanh nghiệp nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu lợi nhuận siêu ngạch. Các doanh nghiệp sẽ áp dụng các biện pháp nhƣ cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất nâng cao sức 8 Luan van cạnh tranh cho sản phẩm. Doanh nghiệp nào có nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao sẽ cạnh tranh thắng lợi trong ngành. - Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất ở các ngành khác nhau nhằm tìm nơi đầu tƣ có lợi nhất.
Giữa các ngành kinh tế, do điều kiện tự nhiên, kỹ thuật và một số nhân tố khách quan khác (nhƣ tâm lý, thị hiếu, kỳ vọng, mức độ quan trọng,…) nên cùng với một lƣợng vốn, đầu tƣ vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn ngành khác. Nhà sản xuất ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hƣớng di chuyển nguồn lực sang những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.