Chương 1. Cơ sở lý luận của Luận văn - Chương 2. Phát triển công nghệ theo hướng “KH&CN day” trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương - Chương 3. Phát triển công nghệ theo hướng “thị trường kéo” trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Cơ sở lý luận về chính sách 1. Khai niệm chính sách Trong mục này, Luận văn sử dụng tài liệu của Vũ Cao Đàm [4]. Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp.
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây: - Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thé quản ly đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá tri pháp ly, nham thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. - Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thé quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. - Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhăm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thê quyền lực hoặc chủ thê quản lý đưa ra.
- Chính sách luôn tao ra một bắt bình đăng xã hội, rất có thê, đồng thời khắc phục một bat bình đăng xã hội đang ton tai, rất có thé khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội). 10 - Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quản lý. Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thé đưa ra định nghĩa: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thé chế hoá, mà một chủ thể quyén lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự uu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu uu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hộ”. “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,.
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau: - Chính sách là một tap hợp biện pháp. Đó có thé là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thé chế hoá dưới dang các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tô chức (doanh nghiệp, trường học,. - Chính sách phải tac động vào động cơ hoạt động của các cá nhân va nhóm xã hội.
Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế,. Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu. Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách.
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiéu nào đó của hệ thông xã hội. Chăng hạn, mục tiêu kinh II doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,. Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau: - Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi. Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý răng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thay được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bang Nash), không dồn đối tác vào đường cùng dé đón lấy những mối hoạ tiềm ân trong các vòng chơi tiếp sau.
- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khdc phục mot yếu to bat dong bộ nao đó trong hệ thông, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xudt hiện những yếu to bat dong bộ mới. Như vậy, quá trình làm chính sách thực chat là tạo ra những bước phát triển hệ thống, tir những bat dong bộ này tới những bat dong bộ khác. Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ 6n định tuyệt đối 6n định, có nghĩa là không còn phát triển. - Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra.
Khái niệm “Mục tiêu biến đôi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thé là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó. Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp dé xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ có thê một vài cách tiếp cận trong đó. Định nghĩa của Luận văn: Từ những phân tích trên đây, Luận văn sử dụng định nghĩa Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quan lý đưa ra, trong đó tạo sự uu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu wu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội. Chính sách khoa học và công nghệ Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Ky thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO): “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện dé nắng cao, tổ chức và sử dụng tiềm luc KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia”.
Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thê hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thé hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN. Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phương châm, điều lệ, qui định. Đó là những nguyên tắc và qui tac do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm phát trién KH&CN. Định nghĩa của Luận văn: Trên cơ sở chính sách ma Vũ Cao Đàm đã định nghĩa [4;3 I |, Luận văn xin đưa ra định nghĩa về chính sách KH&CN như sau: Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyên lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chién luoc phat triển kinh tế - xã hội.
Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp. Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh: - Chính sách KH&CN là một tap hợp biện pháp về KH&CN. - Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thé chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN.
13 - Chính sách KH&CN phải /ác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN. - Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào muc tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Triển khai công nghệ và phát triển công nghệ 1. Khái niệm triển khai công nghệ Tên của dé tài có cụm từ “phát triển công nghệ”, do đó cần phải phân biệt thuật ngữ này với thuật ngữ “triển khai công nghệ”, vì trên diễn đàn KH&CN hiện đang có tranh luận về vẫn đề này.
Khoản 4 điều 3 Dự thảo Luật KH&CN viết: Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu cơ bản định hướng ung dụng. Đề hiéu về quy định này, trước hết phải xem xét cách tiếp cận dé phân loại nghiên cứu khoa học, như phân loại theo chức năng nghiên cứu, phân loại theo phương thức thu thập thông tin, phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu. Trong đó phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu, bao gồm: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, gọi chung là nghiên cứu và triển khai, tiếng Anh viết là Research and Development (viết tắt là R&D). Từ Development trong cum từ vừa nêu không dich là phát triển, bởi vì thuật ngữ này có tên day đủ là Technical Exprimental Development, sau này cũng được gọi là Technological Exprimental Development.
Năm 1959, GS Tạ Quang Bửu đặt thuật ngữ tiếng Việt là “triển khai kỹ thuật”, gọi tắt là “triển khai”.