CHƯƠNG 1: CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở hầu hết các quốc gia, DNNVV luôn chiếm trên 90% số lượng các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Nếu xét về lực lượng lao động thì các DNNVV tạo công ăn việc làm cho từ 1/2 đến 2/3 lao động quốc gia (Canada 42%, Đức 50%, Pháp 47,7%, Đài Loan 79%, Nhật 80,6%) và đóng góp từ 1/3 đến ¼ giá trị GDP hàng năm (Mỹ 39%, Pháp 45%, Bỉ 36%, Anh 26,6%).
Hiện nay trên thế giới vẫn chưa đề ra những tiêu chuẩn chung thống nhất, rõ ràng để xác định như thế nào là một DNNVV. Do vậy, khái niệm DNNVV tại các nước là khác nhau. Một số nước căn cứ vào số lượng lao động làm tiêu thức so sánh. Có nước xếp loại DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 200 người.
Tại Thái Lan, nếu dùng dưới 100 lao động và số vốn dưới 4 triệu đôla thì được coi là DNNVV. Ở Nhật trong ngành khai khoáng, xí nghiệp có dưới 300 lao động và vốn dưới 300 triệu Yên là doanh nghiệp nhỏ. Với Cộng hòa Liên Bang Đức, DNNVV sử dụng lao động nhỏ hơn 500 và doanh số hàng năm dưới 100 triệu Mac Đức. Ở Đài Loan, doanh nghiệp có vốn dưới 4 triệu Nhân dân tệ được xem là DNNVV.
Mặc dù khái niệm DNNVV đã được biết đến trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ XX, và khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ được các nước quan tâm phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm DNNVV được biết đến từ những năm 1990 đến nay. Theo thông tư liên bộ số 21/LĐTT ngày 17-6-1993 của Bộ Lao động Thương binh Xã hội và Bộ Tài chính, các doanh nghiệp ở Việt Nam được phân thành 5 hạng: hạng đặc biệt, hạng I, II, III và IV dựa trên mức độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh với 8 tiêu chí rất phức tạp như vốn, công nghệ, lao động, doanh thu, lợi 123doc -5- nhuận… Đối tượng phân loại chủ yếu chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp Nhà nước với mục đích là để xếp thang bậc lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp. Trước năm 1998, một số địa phương, tổ chức đã xác định DNNVV dựa trên các tiêu chí khác nhau như: số lao động dưới 50 ngưới, giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ, số dư vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ đồng.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, những doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động trên 100 người, và doanh thu hàng năm trên 10 tỷ đồng là doanh nghiệp vừa, còn dưới giới hạn trên là doanh nghiệp nhỏ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, cần phân định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Trong lĩnh vực sản xuất, doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ đồng, lao động dưới 100 người là doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp có từ 1 đến 10 tỷ đồng và số lao động từ 100 đến 500 người là doanh nghiệp vừa. Trong thương mại dịch vụ, doanh nghiệp có số vốn dưới 500 triệu đồng và lao động dưới 50 người là doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp có số vốn từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng và có từ 50 đến 250 lao động là doanh nghiệp vừa.
Ngày 20-6-1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KCN về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNNVV. Theo công văn này, DNNVV là những doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người. Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực. Đây có thể được coi là văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định DNNVV.
Ngày 23-11-2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV. Theo Nghị định này, DNNVV là doanh nghiệp có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng Việt Nam hoặc số lao động bình quân hàng năm dưới 300 người. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về DNNVV. Từ đó đến nay, khái niệm DNNVV được hiểu và áp dụng thống nhất trong cả nước.
Theo đó, DNNVV bao gồm: − Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. − Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước. 123doc -6- − Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã. − Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02 /2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Đặc điểm của các DNNVV xuất phát trước hết từ chính quy mô của doanh nghiệp. Do đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên các DNNVV Việt Nam có những đặc điểm sau: − Các DNNVV Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp và các công ty tư nhân, các hợp tác xã. Từ đó xuất hiện sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau. Điều này làm ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay, đồng thời tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cận nguồn lực không như nhau (trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng…).
− Là những doanh nghiệp có quy mô vốn và lao động nhỏ, đây thường là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Đặc điểm này đã làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động của mình. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp này chưa có kinh nghiệm huy động vốn kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức cung ứng vốn xem khu vực này có nhiều rủi ro nên chưa sẵn sàng cấp tín dụng.
− Khả năng quản lý hạn chế do các chủ doanh nghiệp thường là những người tự đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp. Họ là những người vừa quản lý vừa tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao. Phần lớn chủ doanh nghiệp thường không được đào tạo về quản lý chính quy hoặc không qua khóa đào tạo nào. − Trình độ tay nghề của người lao động thấp.
Các chủ DNNVV không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê lao động có tay nghề cao do 123doc -7- hạn chế về tài chính… Bên cạnh đó, định kiến của người lao động cũng như những người thân của họ về khu vực này còn khá lớn. Người lao động ít được đào tạo vì kinh phí hạn hẹp nên trình độ và kỹ năng thấp. Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc cho các doanh nghiệp này, cơ hội để phát triển thấp cũng là lý do không thu hút được lao động có kỹ năng cao. − Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển khai, nhiều DNNVV có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua lại với giá rẻ.
Tuy nhiên, các DNNVV rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây chuyền công nghệ thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu. Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các doanh nghiệp này có thể tồn tại trên thị trường. − Các DNNVV Việt Nam thường sử dụng chính những diện tích đất riêng của mình làm mặt bằng sản xuất, và cũng rất khó thuê mặt bằng sản xuất. Vì vậy, các DNNVV rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh khi quy mô doanh nghiệp được mở rộng.
Một số doanh nghiệp thuê được đất thì gặp nhiều trở ngại trong việc giải phóng mặt bằng và đền bù. − Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động tiếp thị không có và cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong nền kinh tế thị trường. Với số lượng các doanh nghiệp mới thành lập ngày càng tăng nhanh, đóng góp của khu vực DNNVV ngày càng lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, vai trò của các 123doc -8- DNNVV ngày càng lớn đối nền kinh tế xã hội Việt Nam và được thể hiện trên các mặt sau: Thứ nhất, DNNVV đóng góp quan trọng vào GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế. DNNVV ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP do số lượng doanh nghiệp ngày càng lớn và phân bổ rộng khắp trong hầu hết các ngành, các lĩnh vực.
Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng sản xuất của khu vực DNNVV thường cao hơn so với các khu vực doanh nghiệp khác. Cụ thể, DNNVV đang chiếm giữ vị trí đặc biệt trong một số ngành như: hoạt động khoa học công nghệ chiếm 94,1%, sửa chữa ô tô, xe máy, đồ dùng chiếm 93%, giáo dục đào tạo 87,5%, công nghiệp chế biến 86%, xây dựng 85,7%. Đáng chú ý, DNNVV tập trung mạnh vào 7 phân ngành thuộc công nghiệp chế biến, chiếm 81% tổng giá trị sản lượng toàn ngành. Hàng năm, các DNNVV đóng góp khoảng 40%GDP, 30% giá trị sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, … Thứ hai, DNNVV góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Các doanh nghiệp thành lập ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa sẽ làm giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ. Điều này sẽ giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ. Thứ ba, DNNVV làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.