CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU Ô nhiễm môi trường đã, đang và sẽ là vấn đề nan giải mang tính toàn cầu và tính thế hệ khi những tác động tiêu cực của nó đến sự phát triển bền vững của nhân loại ngày càng sâu rộng. Để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đó, các quốc gia đã nỗ lực bảo vệ tài nguyên, giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm môi trường thông qua nhiều giải pháp. Chính phủ đã ban hành các chính sách bảo vệ môi trường, chính sách về thuế và khuyến khích đầu tư vào các công nghệ môi trường. Năm 1988, Tổ chức Khí tượng Thế giới và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã thành lập Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu, có trách nhiệm đánh giá rủi ro về biến đổi khí hậu do hoạt động con người gây ra và đề xuất các giải pháp để ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức độ chấp nhận được.
Sau Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc năm 2015 (COP21) với việc thông qua Thỏa thuận Paris 2015; ngày 30 tháng 10 năm 2021, COP26 được tổ chức tại Glasgow ở vương quốc Anh và vào ngày 13 tháng 11 năm 2021 Hiệp ước Khí hậu Glasgow đã được kí kết. Hội nghị COP26 đã tái khẳng định việc duy trì mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu ở ngưỡng 1,5oC theo Thỏa thuận Paris. Hiệp ước Glasgow cũng đạt được những thỏa thuận mới so với Thỏa thuận Paris 2015 khi đề cập đến vấn giảm dần việc sử dụng than đá và nhiên liệu hóa thạch, giảm trợ cấp cho nhiên liệu hóa thạch và loại bỏ các công nghệ thu giữ carbon không hiệu quả. Đã có 40 quốc gia cam kết ngưng sử dụng điện than, đây là nhiên liệu chiếm khoảng 37% tổng điện năng trên thế giới trong năm 2019 và là nhiên liệu có đóng góp nhiều nhất trong việc gây ra biến đổi khí hậu.
Hội nghị cũng đã xem xét đến hoàn cảnh riêng của các nhóm nước, nhằm đạt được một thỏa thuận công bằng, đồng thời yêu cầu các quốc gia phải có những kế hoạch rõ ràng trong tương lai để đạt mức phát thải như đã cam kết. Từ thế kỷ XVIII đến XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã diễn ra với đặc trưng nổi bật là cơ khí máy móc, chạy bằng hơi nước. Từ đó, nguồn nhiên liệu hóa thạch bắt đầu được khai thác. Trong suốt cuộc cách mạng lần thứ hai và lần thứ ba, nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ,…) vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn cung năng lượng trên toàn thế giới.
Hiện tại, thế giới đã và đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Khoa học công nghệ bùng nổ, các quốc ra dần chuyển hướng các kỹ thuật khai thác sang một nền kinh tế tự động hóa. Các công nghệ sản xuất 8 năng lượng tái tạo ngày càng được chú trọng nghiên cứu và phát triển. Những bước tiến vượt bậc về đổi mới công nghệ đã tạo điều kiện cho các nước có nền kinh tế phát triển hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và đạt được trạng thái cân bằng hơn giữa chất lượng môi trường với hoạt động kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, ở những nước đang phát triển, việc triển khai các công nghệ xanh hay giảm sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch là rất khó khăn. Ở hội nghị COP26, Ấn Độ đã nêu rõ quan điểm việc ngưng sử dụng nhiên liệu hóa thạch đặc biệt là than đá là không công bằng với các nước đang phát triển. Điều này gây ra những khó khăn trong việc đi đến thỏa thuận chung của hội nghị trong việc thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng nguồn năng lượng sạch. Bên cạnh đó, vẫn phải nhìn nhận rằng các chính sách môi trường ở giai đoạn này chưa đủ nghiêm ngặt để loại trừ những tác động tiêu cực về môi trường mà các hoạt động kinh tế xã hội gây ra.
Trong khi đó, thế giới đang phải đối mặt với rất nhiều bất ổn vĩ mô như dịch COVID - 19, xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại,. Những bất ổn từ biến đổi khí hậu đến rủi ro địa chính trị tạo ra sự thay đổi khó dự báo, chưa có kinh nghiệm ứng phó nhanh cho toàn thế giới. Điều này càng trở nên trầm trọng hơn khi dịch COVID - 19 bùng phát. Tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ, bao gồm cả sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và sinh học tổng hợp khiến cho tác động của những bất ổn này trở nên phức tạp và khiến việc xây dựng, triển khai, giám sát chính sách đối với các công nghệ mới ngày càng khó khăn.
Trong bối cảnh kinh tế bất ổn, mức độ quan tâm của chính phủ và các chủ thể kinh tế về phát triển bền vững có thể bị giảm xuống trong cả cam kết lẫn thực thi (Liu và Zhang, 2019). Điều này làm cho hiệu quả của các chính sách môi trường bị giảm xuống, đồng thời làm giảm mức trợ cấp và đầu tư cho việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực môi trường. Đầu thế kỷ XXI đến nay, OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) luôn đi đầu trong những công nghệ ngăn ngừa biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, với lịch sử quá trình phát triển kinh tế vốn gây ra nhiều tổn hại tới môi trường, OECD đã nỗ lực thực hiện các biện pháp để cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường.
Các thống kê hiện tại cho thấy tình trạng môi trường OECD nhìn chung đang có những chuyển biến tích cực, đặc biệt sau khi Hiệp ước Paris được ký kết. Tuy nhiên, sự thay đổi này vẫn chưa thể bù đắp những ảnh hưởng do tốc độ phát triển kinh tế, đặc biệt là tốc độ phát triển quá nhanh của các ngành công nghiệp gây ra. Cụ thể, trong giai đoạn năm 1995 - 2020, lượng phát thải CO2 trên toàn OECD biến động theo xu hướng tăng từ mức 12173,1 triệu tấn (1995) 9 lên mức cao nhất 13742,7 triệu tấn (2007) và giảm dần về mức 10778,1 triệu tấn (2020). Ở hầu hết các nước OECD, tổng lượng chất thải, nhìn chung, tiếp tục tăng cùng với sự tăng trưởng dân số và kinh tế.
Chỉ một số quốc gia (Pháp, Hungary, Nhật Bản, Cộng hòa Slovakia, Tây Ban Nha) đã nỗ lực giảm tổng lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động kinh tế - xã hội. Thành phần và nguồn gốc khác nhau về chất thải giữa các quốc gia xuất phát từ sự khác nhau của cấu trúc nền kinh tế và mức độ đầu tư vào đổi công nghệ xử lý. Lượng chất thải vẫn ở mức cao tuy tỷ lệ chất thải rắn đô thị được chôn lấp tại OECD đã giảm từ 54% (2000) xuống 42% (2019) và hiện đã có một số quốc gia không còn sử dụng bãi chôn lấp như Thụy Sĩ, Đức, Phần Lan, Thụy Điển và Bỉ. Năm 2019, lượng chất thải rắn phát sinh tại đô thị ước tính lên tới 705 triệu tấn và trung bình một người sống trong khu vực OECD thải ra 539 kg/năm, con số này cao hơn 27kg so với năm 1990.
Ở một khía cạnh khác, trong nền kinh tế xã hội OECD đang chứng kiến vai trò ngày càng tăng của tri thức như một yếu tố then chốt của sản xuất (Chu, 2022). Các quốc gia đã đầu tư rất lớn vào nghiên cứu và phát triển, giúp cho việc phổ biến công nghệ vào cuộc sống sinh hoạt và kinh doanh đã trở nên thuận lợi và hiệu quả. Về các công nghệ liên quan đến môi trường, OECD và các nước phát triển vẫn đang tập trung nghiên cứu và đổi mới các công nghệ giảm thiểu khí thải nhà kính, bên cạnh đó là chú trọng vào việc sản xuất năng lượng tái tạo. Có rất nhiều quan điểm về hiệu quả của việc đổi mới các công nghệ trên đến chất lượng môi trường.
Một mặt, các công nghệ này giúp giảm thiểu khí thải, các khí nhà kính, CO2, SO2,. cải thiện chất lượng môi trường. Mặt khác, vẫn tồn tại một số công nghệ chưa thực sự hoàn chỉnh được đưa vào thực nghiệm, gây tiêu tốn nhiều chi phí cũng như làm gia tăng phát thải CO2. Cho đến hiện tại, để khắc phục những hạn chế trên, chính phủ các nước OECD đang chuyển hướng tập trung nghiên cứu về công nghệ nano hay lưu trữ CO2.
Tuy nhiên, quá trình hoạt động và áp dụng các công nghệ nano hay lưu trữ CO2 trong các nhà máy có thể phản tác dụng, gia tăng chất thải độc hại ra môi trường. Hiện nay, vẫn chưa có thành tựu nào nổi bật để làm giảm những hạn chế trên, những công nghệ này hiện đang được vận hành theo nghiên cứu đi trước. Ở Hoa Kỳ hay Úc, các công nghệ xử lý nước thải mới tạo ra những hiệu quả to lớn trong việc giảm thiểu chì, đồng giúp giảm ô nhiễm đất và nguồn nước. Tuy nhiên các công nghệ xử lý nước thải truyền thống lại có thể phản tác dụng khi quá trình xử lý ô nhiễm nước lại sử dụng 10 năng lượng từ việc đốt cháy nhiên liệu hoá thạch.
Hệ quả là lượng khí thải từ nhiên liệu hóa thạch tăng lên, gây ra ô nhiễm không khí. Những năm trở lại đây, các nước trong OECD đã chuyển hướng vào đổi mới công nghệ sản xuất, lưu trữ và sử dụng năng lượng tái tạo. Sự phát triển của ngành công nghiệp này ngày càng mạnh mẽ, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Chi phí và năng lượng dùng để nghiên cứu các nguồn năng lượng mới như năng lượng mặt trời là quá lớn, chưa thể đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của thế giới.
Ngoài ra, các công nghệ về năng lượng gió, thủy triều, địa nhiệt,. còn tạo ra nhiều ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái tự nhiên của động thực vật hoang dã, các sinh vật dưới biển và trên không. Để bù đắp năng lượng và chi phí của quá trình chuyển đổi năng lượng, cũng như cân bằng những lợi ích và tổn thất cho môi trường vẫn đang là một bài toán khó đối với các nước. Thế giới bước vào thập kỷ 20 của thế kỷ XXI với những khó khăn và thách thức lớn trên nhiều phương diện.
Sự bùng nổ và lây lan của đại dịch COVID - 19 khiến hơn 528.000 ca nhiễm và 6.000 người tử vong tính tới tháng 5 năm 2022. Kể từ năm 2020, Tổ chức Y tế thế giới tuyên bố COVID - 19 là đại dịch, các chính phủ trên toàn cầu tiếp tục đấu tranh với những tác động sâu sắc của nó đối với xã hội, nền kinh tế và chính trị.