LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việc nghiên cứu về biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường không chỉ là một nhiệm vụ cho các nhà khoa học và chính phủ mà còn là một ưu tiên cấp bách của toàn cầu. Các hiện tượng như tăng nhiệt độ toàn cầu, thay đổi độ ẩm, và tăng mực nước biển là những biểu hiện rõ ràng của sự biến đổi khí hậu, trong khi ô nhiễm môi trường, đặc biệt là xả thải CO2, gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với không khí và môi trường sống Chang và công sự (2019). Những tác động này không chỉ gây ra thiệt hại về môi trường mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế thông qua các thảm họa tự nhiên dẫn đến những hậu quả tiêu cực Ahmed Ali (2020).
Đặc biệt, các nền kinh tế mới nổi lại đang phải đối mặt với áp lực phát triển mà không gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng. Do đó, việc nghiên cứu về biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường và tìm ra cách phát triển bền vững và không gây hại đến môi trường là vô cùng cấp thiết. Đối với mọi quốc gia và khu vực, việc đảm bảo một môi trường sống lành mạnh và bền vững là một nhiệm vụ không thể trì hoãn được, và nghiên cứu của nhóm có thể sẽ là chìa khóa để đạt được mục tiêu quan trọng đó. Bên cạnh đó, chuyển đổi số và sự sẵn sàng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin (ICT - Information Communication Technology) không chỉ là một xu hướng mà còn là một yếu tố cấp thiết đối với các quốc gia, hướng tới sự phát triển kinh tế và xã hội.
Bằng cách sử dụng hiệu quả hệ thống công nghệ thông tin, các quốc gia này có thể tăng cường hiệu suất lao động, giảm chi phí vận hành, cung cấp dịch vụ công hiệu quả hơn, và thúc đẩy sự phát triển bền vững. Ngoài ra, việc sẵn sàng ứng dụng Công nghệ cũng giúp tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế và thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với các quốc gia đang phát triển, việc chuyển đổi số không chỉ là một cơ hội mà còn là một nhu cầu cấp bách để thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Flor (2001); Verma và cộng sự (2022). Với phần lớn mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, các nền kinh tế mới nổi thường phải đối mặt với sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh đó, việc áp dụng công nghệ thông tin có thể mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đồng thời gây ra những thách thức về môi trường. Năm 2008, Ủy ban Châu Âu tuyên bố rằng công nghệ thông tin và truyền thông có vai trò quan trọng trong việc giảm cường độ năng lượng và tăng hiệu quả sử dụng năng lượng của nền kinh tế (Commission và 2 cộng sự, 2008). Công nghệ thông tin thường được sử dụng để tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản lý tài nguyên trong các ngành công nghiệp, tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến việc tiêu thụ năng lượng và tài nguyên không bền vững, góp phần vào tăng cường ô nhiễm môi trường. Đồng thời, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng đi kèm với việc tăng cường ô nhiễm điện tử từ các thiết bị điện tử và viễn thông, đặc biệt là trong các quốc gia đang phát triển nhanh chóng.
Việc quản lý dữ liệu và tài nguyên cũng đặt ra những thách thức về ô nhiễm môi trường, khi việc xử lý lượng lớn dữ liệu yêu cầu năng lượng lớn từ các nguồn không bền vững như than đá hoặc dầu mỏ (Wan Lee và Brahmasrene, 2014). Do đó, việc nghiên cứu và hiểu rõ tác động của công nghệ thông tin đối với môi trường là vô cùng cấp thiết, nhất là đối với các nền kinh tế mới nổi, để đảm bảo sự phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và đạt được một tương lai bền vững. Vấn đề này càng quan trọng xét trên bối cảnh của Việt Nam. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm môi trường đang gia tăng một cách đáng lo ngại, đặc biệt là trong các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh, với những vấn đề về chất lượng không khí và nước.
Đồng thời, Việt Nam đang trải qua một giai đoạn tăng trưởng kinh tế ấn tượng, với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế (GDP - Gross Domestic Product) trung bình hàng năm đạt khoảng 6 - 7% trong những năm gần đây World Bank (2023). Nhìn chung, sự phát triển kinh tế đồng thời với việc áp dụng công nghệ thông tin có thể dẫn đến ô nhiễm môi trường, đặc biệt là trong một nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Trong bối cảnh này, nghiên cứu về tác động của ICT và GDP đối với ô nhiễm môi trường tại Việt Nam là hết sức cấp thiết. Những hiểu biết từ nghiên cứu này sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc đưa ra các chính sách và biện pháp hành động nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đồng thời tối ưu hóa sự phát triển kinh tế và áp dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam.
Tổng quan nghiên cứu và tính mới của nghiên cứu 2. Ô nhiễm môi trường và mức độ xả thải CO2 Ô nhiễm không khí là hiện tượng mà không khí trong môi trường xung quanh chúng ta bị nhiễm phủ bởi các chất độc hại và hạt bụi, phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau như giao thông vận tải, hoạt động công nghiệp, và tiêu thụ năng lượng. Đây là một vấn đề phức tạp và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng do tăng cường hoạt động kinh tế và sự phát triển không bền vững. Ô nhiễm không khí có tác động lớn đến nền kinh tế 3 thông qua việc giảm năng suất lao động và tăng chi phí y tế.
Theo World Bank (2016), mỗi năm, ô nhiễm không khí có thể gây mất mát kinh tế trên toàn thế giới lên đến hàng tỷ đô la do chi phí điều trị bệnh và mất mát năng suất lao động. Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí có thể làm giảm năng suất lao động và tăng chi phí y tế, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và sức khỏe của nhân viên, từ đó làm suy giảm năng suất lao động và tăng chi phí sản xuất cho các doanh nghiệp OECD (2014). Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra tác động của ô nhiễm môi trường, thể hiện qua mức độ xả thải CO2, tới tăng trưởng kinh tế quốc gia. Smith và các cộng sự (2017) chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và lượng khí thải CO2 khi cho thấy rằng sự gia tăng sản xuất và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ đi kèm với việc tăng cường hoạt động công nghiệp và giao thông, góp phần vào tăng trưởng ô nhiễm không khí.
Bổ sung cho kết quả này, Wang và các cộng sự (2018) đã xem xét mối quan hệ giữa GDP và chất lượng không khí ở các quốc gia phát triển. Kết quả cho thấy mức độ ô nhiễm không khí thường tăng theo sự phát triển kinh tế, khi mà nhu cầu về năng lượng và hàng hóa tăng lên. Trong bài nghiên cứu của mình, Usama (2012) đã điều tra các yếu tố chính ảnh hưởng đến lượng phát thải CO2 ở 12 quốc gia Trung Đông giai đoạn 1990 - 2009 và chỉ ra rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment), GDP và tổng trao đổi (Total trade) là những yếu tố quan trọng làm tăng lượng khí thải CO2 ở các quốc gia được điều tra. Ghouali và các cộng sự (2015) cũng đã thực hiện một bài nghiên cứu phân tích các mối tương tác có thể tồn tại giữa tổng mức tiêu thụ năng lượng, FDI, tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 ở các quốc gia BRICS.
Kết quả đã cho thấy sự tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ CO2 đến các biến độc lập trên. Bên cạnh đó, Victor và các cộng sự (2018) khi nghiên cứu trên nhóm 23 quốc gia hàng đầu hiện tại về năng lượng tái tạo trong giai đoạn 1985 - 2011 lại đưa ra kết quả chỉ ra năng suất của các nguồn tái tạo và hiệu quả phát triển tài chính trong sản xuất điện tái tạo trên GDP là nguyên nhân chính gây ra những thay đổi tổng thể và tiêu cực về phát thải CO2 trong thập kỷ qua. Các nghiên cứu khác xem xét vai trò của ICT trong giảm thiểu ô nhiễm không khí. Nhóm nghiên cứu của Li (2019) đã khám phá vai trò của ICT trong giảm thiểu ô nhiễm không khí.
Các công nghệ thông tin hiện đại có thể hỗ trợ quản lý giao thông, tiết kiệm năng lượng và tăng cường hiệu suất năng lượng, giảm bớt khí thải CO2 và cải thiện chất lượng không khí. Nghiên cứu của Wang (2020) cũng tập trung vào ảnh hưởng của 4 sự phát triển ICT đến lượng khí thải CO2. Nhóm khẳng định rằng việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại có thể giảm bớt khí thải CO2 bằng cách tối ưu hóa quá trình sản xuất và vận hành hệ thống, cũng như thúc đẩy sự chuyển đổi sang nguồn năng lượng sạch. Khi xem xét mối quan hệ giữa ICT, tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính và chất lượng môi trường ở các nền kinh tế mới nổi, họ đã thu được các kết quả thực nghiệm chứng tỏ rằng giữa ICT và CO2 có mối quan hệ mật thiết Danish và các cộng sự (2018).
Củng cố cho điều này, nhóm nghiên cứu của Recep (2020) đã tập trung vào việc kiểm tra mối quan hệ giữa sự phát triển ICT và lượng khí thải carbon thông qua kênh toàn cầu hóa và thấy rằng ICT có ảnh hưởng đến lượng khí thải carbon ở các nước BRICS. Bên cạnh đó, có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố khác tác động đến ô nhiễm không khí. Một số nhân tố kinh tế bổ sung cũng có mối quan hệ với CO2 có thể kể đến như tổng dân số của quốc gia, thương mại, phát triển tài chính,. Đồng thời cũng có những nhân tố liên quan đến công nghệ thông tin như mức sử dụng năng lượng,.
có liên kết với lượng khí thải CO2. Chien-Chiang Lee và Ya-Nan Zhao (2023) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa dân số và ICT đối với mức thải khí CO2 ở 96 quốc gia từ năm 2000 đến năm 2020. Ngoài ra, Habiba (2022) cũng xem xét đến tác động của sự phát triển thị trường tài chính tổng thể, phát triển thể chế và các chỉ số phụ của chúng đối với lượng khí thải CO2 trong giai đoạn 2000–2018 tại các nước phát triển và mới nổi.