Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Định nghĩa về rừng, mất rừng và suy thoái rừng 1. Rừng Đã có một số định nghĩa về rừng được chấp nhận bởi các tổ chức môi trường và lâm nghiệp thế giới như sau: Theo Công ước khung về biến đổi khí hậu (FCCC) [54], rừng được định nghĩa là diện tích đất tối thiểu 0,05-1,0 ha với độ tàn che trên 10–30% với những cây có khả năng đạt chiều cao tối thiểu 2-5 m. Rừng có thể bao gồm một trong hai dạng rừng kín (nơi cây cối nhiều tầng) hoặc rừng thưa.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Đa dạng sinh học (UN-CBD) [80], rừng được định nghĩa là diện tích đất lớn hơn 0,5 ha, có độ tàn che trên 10%, cây phải có khả năng đạt chiều cao 5 m. Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) [52], rừng được định nghĩa là diện tích đất có độ tàn che trên 10% và diện tích lớn hơn 0,5 ha. Các cây phải có thể đạt chiều cao tối thiểu là 5 m khi trưởng thành, hàng cây rộng trên 20 m. Có thể bao gồm một trong hai kiểu rừng: rừng kín, nơi cây có nhiều tầng và tầng sinh trưởng chiếm tỷ lệ cao trên mặt đất; hoặc rừng thưa, có độ tàn che trên 10%.
Theo Luật Lâm nghiệp 2017 [35], rừng được định nghĩa là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên. Theo Nghị định 156/NĐ-CP [11], diện tích liền vùng là diện tích vùng đất có rừng tự nhiên, rừng trồng, liên tục, khoảng cách giữa các dải rừng không vượt quá 30 m và tổng diện tích các khoảng trống không quá 30% diện tích. 6 Theo Phụ lục I – Phân chia trạng thái rừng tại Thông tư số 33/2018/TT- BNNPTNT [5] quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng thì đất quy hoạch cho lâm nghiệp được chia thành đất có rừng và đất chưa có rừng. Đất có rừng là diện tích được xác định là có rừng theo Luật Lâm nghiệp 2017.
Và đất chưa có rừng bao gồm: đất có cây gỗ tái sinh (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha), đất đã trồng nhưng chưa thành rừng (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha) và đất khác (đất trống, đất trồng cây nông nghiệp, mặt nước, đất có cây lâm nghiệp khác). Các quốc gia, tổ chức quốc tế khác nhau đã đưa ra những định nghĩa về rừng khac nhau. Tuy nhiên, điểm chung là dựa trên một, hai hay cả 3 tiêu chí: diện tích tối thiểu, độ tàn che và chiều cao cây gỗ. Mất rừng Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) [53], mất rừng là việc chuyển đổi đất rừng sang đất sử dụng vào mục đích khác hoặc làm giảm độ tàn che của cây rừng dưới ngưỡng tối thiểu 10%.
Mất rừng có hàm ý là việc mất độ che phủ rừng lâu dài hoặc vĩnh viễn hoặc chuyển sang mục đích sử dụng đất khác. Theo Công ước khung về biến đổi khí hậu (FCCC) [54], mất rừng là sự chuyển đổi trực tiếp từ đất có rừng sang đất không có rừng bởi con người. Theo Trung tâm Nông lâm nghiệp thế giới (ICRAF) [55], mất rừng là việc thay đổi từ trạng thái rừng sang trạng thái không rừng tùy thuộc vào định nghĩa về rừng, liên quan đến cả 2 khía cạnh thể chế và độ che phủ. Có thể thấy, các tổ chức khác nhau có những định nghĩa khác nhau về mất rừng nhưng đều liên quan đến 2 yếu tố là: chuyển đổi sử dụng đất và độ che phủ rừng.
Trong đó, chỉ tiêu độ che phủ rừng có liên quan đến định nghĩa về rừng (căn cứ để xác định 1 diện tích nào đó còn đủ tiêu chuẩn là rừng hay không). 7 Ở Việt Nam, định nghĩa mất rừng chưa được đề cập một cách rõ ràng, tuy nhiên, có thể hiểu là hiện tượng các cây rừng bị chặt hạ trên một khu vực có diện tích từ 0,3 ha trở lên. Suy thoái rừng Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) [53], suy thoái rừng là việc giảm độ che phủ hoặc trữ lượng rừng do việc khai thác, đốt cháy hoặc các sự kiện khác, với điều kiện độ tàn che của cây rừng trên 10% (để đảm bảo theo định nghĩa về rừng). Theo nghĩa chung hơn, suy thoái rừng là giảm dài hạn nguồn cung cấp tổng thể các lợi ích từ rừng, bao gồm: gỗ, đa dạng sinh học và sản phẩm hoặc dịch vụ khác.
Theo Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) [81], suy thoái rừng là rừng bị mất đi cấu trúc, chức năng, thành phần loài hoặc năng suất bởi các hoạt động của con người. Do đó, rừng bị suy thoái làm giảm khả năng cung cấp hàng hóa và dịch vụ và chỉ duy trì đa dạng sinh học ở mức hạn chế. Đa dạng sinh học của rừng bị suy thoái bao gồm nhiều thành phần phi cây, có thể chiếm ưu thế trong thảm thực vật dưới tán. Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) [56], suy thoái rừng là do con người trực tiếp gây ra (kéo dài trong X năm trở lên) gây tổn thất dài hạn ít nhất Y% trữ lượng các-bon rừng (và giá trị rừng) kể từ thời điểm T và chưa đủ tiêu chuẩn để được gọi là mất rừng.
[79], suy thoái rừng được định nghĩa rộng rãi là sự suy giảm khả năng của rừng để sản xuất các dịch vụ hệ sinh thái như lưu trữ các-bon và các sản phẩm gỗ do tác động của con người và những thay đổi về môi trường. Các tác giả đã đề xuất xác định suy thoái rừng dựa vào 4 tiêu chí bao gồm: năng suất của rừng; đa dạng sinh học; các nhiễu loạn bất thường (lửa, sâu, bệnh hại); chức năng bảo vệ (đất, nước) của rừng; và lưu trữ các-bon rừng. 8 Các định nghĩa, cách tiếp cận khác nhau về suy thoái rừng ở trên đã cho thấy, xác định suy thoái rừng phức tạp hơn so với xác định mất rừng, đặc biệt có những khía cạnh của suy thoái rừng là rất khó định lượng. Ở Việt Nam, suy thoái rừng được định nghĩa trong Luật Lâm nghiệp 2017 [35], là sự suy giảm về hệ sinh thái rừng, làm giảm chức năng của rừng.
Mặc dù, suy thoái rừng đã được định nghĩa trong văn bản Luật nhưng với định nghĩa này, việc xác định suy thoái rừng ở Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức ngay từ cách hiểu cho đến việc định lượng suy thoái rừng. Suy thoái rừng thường được hiểu là các vụ phá rừng có quy mô nhỏ (là một phần của mất rừng) hoặc là sự chuyển đổi từ trạng thái rừng có trữ lượng gỗ cao xuống trạng thái rừng có trữ lượng gỗ thấp hơn. Trong khi đó, các khía cạnh của suy thoái rừng như suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm chức năng phòng hộ của rừng vẫn còn ít được đề cập đến. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa không gian để xác định thay đổi rừng trên thế giới và Việt Nam Theo Phùng Văn Khoa và Đỗ Xuân Lân [30], công nghệ địa không gian (Geospatial Technology - GT) có thể được hiểu là công nghệ thu thập, tổng hợp, phân tích, trình diễn, diễn giải, chia sẻ và quản lý các dữ liệu không gian và các dữ liệu thuộc tính liên quan.
Thông thường, công nghệ địa không gian bao gồm 3 hệ thống cơ bản là: Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS), Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information Systems - GIS) và Công nghệ viễn thám (Remote Sensing - RS). Mặc dù, khi xét về bản chất ứng dụng trong thực tiễn, ba hệ thống cơ bản đó có tính độc lập tương đối nhưng chúng có mối liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau, tùy theo từng ứng dụng trong mỗi trường hợp nhất định. * Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) GPS là hệ thống định vị toàn cầu để xác định vị trí mặt đất dựa vào các vệ tinh nhân tạo. Trong cùng một thời điểm, một vị trí cụ thể trên mặt đất sẽ 9 được xác định trên cơ sở khoảng cách đến ba vệ tinh (tối thiểu), từ đó tính được tọa độ của vị trí đó.
Các vệ tinh GPS bay vòng quanh trái đất hai lần trong một ngày theo một quỹ đạo rất chính xác và phát tín hiệu có thông tin xuống trái đất. Các máy thu GPS nhận thông tin này và bằng phép tính lượng giá tính được chính xác vị trí của người dùng. Về bản chất máy thu GPS so sánh thời gian tín hiệu được phát đi từ vệ tinh với thời gian nhận được chúng. Sai lệch về thời gian cho biết máy thu GPS ở các vệ tinh bao xa.
Rồi với nhiều khoảng cách đo được tới nhiều vệ tinh máy thu có thể tính được vị trí của người dùng và hiển thị lên bản đồ điện tử của máy. Máy thu GPS phải kết nối tín hiệu của ít nhất ba vệ tinh để tính ra vị trí hai chiều (kinh độ và vĩ độ) và để theo dõi được chuyển động. Với bốn hay nhiều hơn số vệ tinh trong tầm kết nối thì máy thu GPS có thể tính được vị trí ba chiều (kinh độ, vĩ độ và độ cao). * Hệ thống thông tin địa lý (GIS) Hệ thống thông tin địa lý xuất hiện vào giữa thập niên 1960 phản ánh những tiến bộ của công nghệ máy tính và sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng về địa lý định lượng.
GIS được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau đã được sử dụng, trong đó có 3 định nghĩa về GIS được sử dụng phổ biến: - GIS là một hệ thống thông tin được thiết kế để làm việc với các dữ liệu trong một hệ tọa độ quy chiếu. GIS bao gồm một hệ cơ sở dữ liệu và các phương thức để thao tác với dữ liệu đó. - GIS là một hệ thống tích hợp giữa phần cứng và phần mềm máy tính nhằm thu thập, lưu trữ, kiểm tra, tích hợp, thao tác, phân tích, hiển thị dữ liệu được quy chiếu cụ thể. - GIS là một chương trình máy tính hỗ trợ việc thu thập, lưu trữ, phân tích, hiển thị dữ liệu bản đồ.