Chương 1: Lý thuyết về thuế và tăng trưởng kinh tế. Chương 2: Thực trạng thu thuế và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2007 – 2012. Chương 3: Nghiên cứu sự tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế ở VN - Kết luận và Kiến nghị. 5 CHƢƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ THUẾ VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1.
Lý thuyết về thuế 1. Sơ lƣợc quá trình phát triển thuế ở Việt Nam Giai đoạn 1: Thời kỳ trước thực dân Pháp xâm lược Thời hậu Lê, thuế được chia thành 2 loại chính: thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu gồm: Thuế thân, thuế điền và thuế tạp dịch. Thuế gián thu đánh một cách phân tán vào mọi hoạt động tiểu thủ công nghiệp.
Thời nhà Nguyễn, chế độ thuế được chia thành 2 loại: chính phú và tạp phú. Chính phú gồm có thuế điền thổ (tô), thuế thân đinh (dung), và thuế điệu (tạp dịch-là loại thuế bắt buộc lao động không công qui định trong năm). Tạp phú gồm các loại thuế: Thuế cảng, thuế quan tân, thuế nguồn đầm, thuế hầm mỏ, thuế các hộ sản xuất. Giai đoạn 2: Thời kỳ thuộc địa, nữa phong kiến (từ năm 1895 đến tháng 8 năm 1945) trước thực dân Pháp xâm lược Ngay sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã đặt chế độ thuế khoá.
Nhìn chung chế độ thuế khoá thực dân Pháp vừa nhằm bòn rút dân ta vừa đầu độc làm suy thoái cả dân tộc ta. Ở miền Trung (Đà Nẵng.) chúng bỏ thuế cảng của nhà Nguyễn, chỉ thu một số lệ phí đèn pha, tín hiệu, tàu cập bến. Năm 1861 mở thầu trúng thuốc phiện với giá 2,5 triệu Phơrăng. Cho phép mở sòng bạc để thu thuế môn bài, sau đó là thuế rượu, rượu vang, bia, thuế khách sạn, quán rượu, tiệm nhảy.
Tháng 2/1862, chúng cho phép nhập cảng thuốc phiện để thu thuế doanh thu. Ở Nam kỳ có thuế trực thu, thuế gián thu và thuế tem, thuế xuất nhập khẩu, thuế kho và lệ phí cảng, tiền bán hoặc cho thuê đất công. Đến năm 1928, chế độ đồng hoá quan thuế giữa Pháp và ba xứ của Việt Nam mới chính thức ban hành. Bỏ chế độ trưng thầu thuế quan và thuế gián thu để thay thế chế độ công quản trực tiếp do người Pháp trực tiếp cai quản.1 Số liệu tham khảo ngân sách (Frăng Pháp: FF) năm 1939 và 1945 xứ Đông Dương 6 Xứ Ngân sách (FF) Năm 1939 Năm 1945 Bắc kỳ 15.2 Số liệu tham khảo thuế (Frăng Pháp: FF) năm 1939 và 1945 xứ Đông Dương Loại thuế Thu thuế (FF) Năm 1939 Năm 1945 1.
Thuế tiêu thụ và vận chuyển hàng hoá 20. Thuế muối, rượu, thuốc phiện, diêm, thuốc lá 24. Thuế điền thổ và trước bạ 11. Giá tem thư 0,06 0,1 5.
Thuế nhốt súc vật Giai đoạn 3 : Nước Việt Nam độc lập, thống nhất và xây dựng xã hội chủ nghĩa Trước năm 1951, chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà duy trì các thuế gián thu như: thuế quan, thuốc lào, muối. Thuế trực thu gồm: thuế điền thổ, môn bài, sát sinh. Năm 1951, chế độ thuế thống nhất gồm 7 loại. Năm 1954 đến 1956, chế độ thuế gồm 11 loại.
Đến năm 1961, hệ thống thu ngân sách nước ta chia làm 2 mảng lớn và tồn tại đến tháng 8 năm 1990. Đối với xí nghiệp quốc doanh thực hiện chế độ thu quốc doanh (gián thu) và chế độ trích lợi nhuận (trực thu). Đối với đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh, thực hiện chế độ thuế. Ngày 8/8/1990, nước ta cải cách thuế toàn diện, sâu sắc và căn bản.
Bao gồm 9 săc thuế. Đến ngày 1/1/19996, hệ thống thuế Việt Nam hoàn chỉnh thành 14 sắc thuế gồm thuế, phí và lệ phí. 7 Chế đô thuế năm 1951 Chế đô thuế năm 1954-1956 - Thuế nông nghiệp Thuế doanh nghiệp - Thuế công nghiệp, thương nghiệp Thuế lợi tức doanh nghiệp - Thuế hàng hoá Thuế hàng hoá - Thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thuế buôn chuyến - Thuế sát sinh Thuế xuất, nhập khẩu - Thuế trước bạ Thuế kinh doanh nghệ thuật - Thuế tem Thuế sát sinh Thuế rượu Thuế muối Thuế thổ trạch Thuế hàng hoá tồn kho Kể từ ngày 1/1/1999, hệ thống thuế Việt Nam bao gồm 9 sắc thuế, ngoài ra hệ thống thu ngân sách nhà nước còn có: Thuế môn bài, thuế sát sinh, thuế sử vốn ngân sách nhà nước, thu từ nông sản, thu từ dầu khí, lệ phí và phí các loại. Cải cách thuế trong những năm cuối thế kỷ XX không chỉ đơn giản là sự cân nhắc tối ưu giữa mục tiêu hiệu quả và công bằng trong điều kiện của một nền kinh tế “đóng”, mà còn bị chi phối mạnh mẽ bởi những nhân tố mới nảy sinh từ quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra một cách nhanh chóng.
Những khác biệt này một mặt phản ánh sự chuyển hướng chính sách trong cải cách thuế nhằm đạt tới sự tối ưu trong điều kiện nền kinh tế mở nhưng mặt khác lại hàm ý nhiều vấn đề cần phải giải quyết đối với cải cách thuế trên thế giới nói chung và cải cách thuế ở Việt Nam nói riêng. Những xu hướng nổi bật trong cải cách thuế trên thế giới vào những năm cuối của thế kỷ XX như sau: Tỷ lệ động viên thông qua thuế so với GDP tiếp tục có xu hướng ngày càng tăng. Thuế xuất thu nhập (đối với thu nhập cá nhân) tiếp tục giảm. Cơ sở đánh thuế thu nhập được mở rộng để bù đắp số thuế giảm do việc cắt giảm thuế suất.
8 Song song với viếc cắt giảm thuế suất và mở rộng cơ sở đánh thuế, thuế thu nhập cá nhân của đa số các nước trên thế giới đã được đơn giản hoá theo hướng giảm bớt sản lượng thuế suất và làm cho chúng bằng phẳng hơn. Thuế thu nhập công ty cũng được cải cách theo xu hướng áp dụng thuế GTGT thay cho thuế thu nhập cá nhân: cắt giảm thuế xuất và mở rộng diện đánh thuế. Sự lan truyền nhanh chóng của xu hướng áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu trên phạm vi toàn cầu. thuế có sự thay đổi theo hướng giảm dần thuế trực thu, tăng tỷ lệ thuế gián thu đối với các nước phát triển, trong khi đó đối với các nước đang phát triển thì sự thay đổi này có khuynh hướng ngược lại.
Tính phức tạp trong hệ thống thuế của các nước đòi hỏi ngày càng phải được đơn giản hoá. Tất cả những xu hướng trên đây đã chứng tỏ một điều rằng trong thời đại ngày nay, việc hoạch định chính sách thuế không phải đơn giản chỉ là vấn đề chủ quyền hoàn toàn độc lập của quốc gia nữa. Những nhân tố của toàn cầu hoá đã nhanh chóng trở thành những lực lượng khách quan chi phối xu hướng cải cách thuế của bất cứ nước nào có tham gia vào các mối quan hệ kinh tế quốc tế ở những mức độ khác nhau. Những nhân tố này đã, đang và sẽ tiếp tục là lực lượng chi phối xu hướng cải cách thuế trên thế giới trong thế kỷ XXI.
Thế kỷ của toàn cầu hoá được đặc trưng bởi các nhân tố của nền kinh tế tri thức. 9 Hệ thông thuế từ 1/1/1996 Hệ thông thuế từ 1/1/1999 - Thuế sử dụng đất nông nghiệp Thuế sử dụng đất nông nghiệp - Thuế chuyển quyền sử dụng đất Thuế chuyển giao quyền sử dụng đất - Thuế doanh thu Thuế giá trị gia tăng - Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế tiêu thụ đặc biệt - Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế xuất, nhập khẩu - Thuế lợi tức Thuế thu nhập doanh nghiệp - Thuế thu nhập đối với người có thu Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao nhập cao - Thuế tài nguyên Thuế tài nguyên - Thuế nhà, thuế đất Thuế nhà, thuế đất - Thu về sử dụng vốn ngân sách nhà nước Ngoài ra, hệ thống thu ngân sách - Thuế sát sinh Nhà nước còn có : - Thuế môn bài - Thuế môn bài - Lệ phí: trước bạ, công chứng, chứng - Thuế sát sinh thư, trọng tài kinh tế, giao thông, hải quan - Thu về sử dụng vốn ngân sách nhà - Phí: bay qua bầu trời, phí qua cảng qua nước cầu, phà đò, phí chợ - Thu từ nông sản - Thu từ dầu khí - Lệ phí và phí các loại Trong các năm 1987-1989, nhà nước đã lần lượt có những sửa đổi, bổ sung pháp lệnh thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp và thông qua luật thuế xuất nhập khẩu hàng mậu dịch. Đặc biệt, từ năm 1990, theo chương trình cải cách hệ thống chính sách thuế bước 1, Quốc hội các khoá 8 và 9 đã lần lượt ban hành hệ thống chính sách thuế mới bao gồm: thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tức, thuế suất nhập khẩu thuế tài nguyên, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao áp dụng thống nhất đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. 10 Ngoài ra, còn có thuế môn bài, thuế sát sinh và một số khoản lệ phí và phí.
Để thực hiện chương trình cải cách thuế bước 2, từ giữa năm 1997, Quốc hội khoá 9, kỳ họp thứ hai đã thông qua luật thuế GTGT thay thế thuế doanh thu và thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế thuế lợi tức doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/1999. Đồng thời sửa đổi một số điều trong luật thuế suất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. Công cuộc cải cách thuế bước 2 đang đi những bước đầu tiên trên con đường đổi mới phù hợp xu thế hội nhập của nước ta vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới. Ngành thuế cũng đã thực hiện ký kết các hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 28 quốc gia và đến nay 23 hiệp định đã có hiệu lực thi hành.
Tổ chức ngành thuế nhà nước cũng được thành lập trên cơ sở sát nhập 3 tổ chức: thuế quốc doanh, thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp thành một hệ thống thu thống nhất để công tác lãnh đạo, chỉ đạo được kịp thời, mạnh mẽ… Từ năm 2007, thuế thu nhập cá nhân được quy định thành Luật thay cho Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân, song song đó thuế thu nhập cá nhân thay thế cho Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Trong năm 2012, sự ra đời của thuế bảo vệ môi trường; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thay cho thuế nhà thuế đất. Lý thuyết về thuế: Thuế xuất hiện từ khá lâu, nhưng khoa học về thuế chỉ xuất hiện vào khoảng những năm cuối thế kỹ XVII. Các nhà kinh tế học đều tập trung lý giải xung quanh vấn đề phân chia gánh nặng thuế của đất nước, tính công bằng của thuế, phương pháp thu thuế, đối tượng nào chịu thuế và đối tượng nào không chịu thuế.