CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỘC QUYỀN 1.1- Lý luận về cổ phần hoá: 1.1– Khái niệm cổ phần hoá DNNN: Cổ phần hoá DNNN là một thuật ngữ để biểu đạt quá trình chuyển DNNN thành công ty cổ phần thuộc sổ hữu của các pháp nhân và thể nhân (gọi là các cổ đông) đã bỏ tiền ra mua các cổ phần của DNNN đó. Chuyển DNNN thành công ty cổ phần là một biện pháp chuyển DNNN sang sở hữu nhiều thành phần, sở hữu hỗn hợp, nhằm huy động rộng rãi các nguồn vốn cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy quá trình xử lý và khắc phục những tồn tại hiện thời của DNNN, tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong cạnh tranh thương mại, đồng thời phục vụ cho nhu cầu chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế hợp lý cho phát triển. Cổ phần hoá DNNN không chỉ là quá trình chuyển sở hữu nhà nước sang sở hữu của các cổ đông, mà còn có cả hình thức DNNN thu hút thêm vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu để trở thành công ty cổ phần. Có thể bán DNNN cho các cổ đông là tư nhân, cá thể (không có quốc doanh, tập thể) trong trường hợp nhà nước không cần giữ doanh nghiệp đó dưới hình thức quốc doanh và các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể không muốn mua.
Các cổ đông tư nhân, cá thể ở đây bao gồm cả người của nhà nước, của tập thể và tư nhân.2- Phân loại: Trên thế giới hiện nay có hai loại hình cổ phần hoá: Một là, cổ phần hoá DNNN: Ban đầu, theo QĐ 143/HĐBT (10/5/1990) và QĐ 202/CT (4/3/1993) thì cổ phần hoá DNNN được hiểu là quá trình chuyển một số DNNN đáp ứng các điều kiện như: có quy mô vừa và nhỏ, kinh doanh có lãi hoặc triển vọng có lãi, Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần bằng cách giữ nguyên giá trị sở hữu của Nhà nước, phát hành cổ phiếu mới thu hút vốn hoặc bán một phần tài sản thuộc sở hữu nhà nước cho cá nhân và pháp nhân trong và ngoài doanh nghiệp. Đối 10 tượng được ưu tiên mua cổ phiếu là người lao động trong doanh nghiệp, DNNN khác, hạn chế bán cổ phiếu cho tư nhân trong nước và người nước ngoài. Theo khái niệm trên thì đối tượng được góp vốn, mua cổ phần đã bị giới hạn lại làm hạn chế khả năng huy động vốn của doanh nghiệp cũng như có sự phân biệt đối xử giữa những người lao động trong DNNN được cổ phần hoá và trong các DNNN khác với tư nhân trong nước và người nước ngoài. Vì vậy, khái niệm này đã được điều chỉnh.
Theo đó, cổ phần hoá DNNN được coi là một thuật ngữ để biểu đạt một quá trình chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần, trong đó vốn của nó do nhiều thành viên góp vào được gọi là cổ đông. Các cổ đông này có thể là pháp nhân hay thể nhân. Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần.
Hai là, cổ phần hoá các loại hình doanh nghiệp khác: Bên cạnh cổ phần hoá DNNN thì còn cần phải cổ phần hoá các loại doanh nghiệp khác như: công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn và các doanh nghiệp tư nhân.3- Tác động của cổ phần hoá đến nền kinh tế: - Việc cổ phần hoá góp phần nâng cao trình độ quản lý của các nhà lãnh đạo. Bởi vì, một khi hết độc quyền thì cũng là lúc cho chúng ta thấy rõ nhất về thực tài của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có làm ra lợi nhuận hay không. Như vậy các nhà lãnh đạo buộc phải tự nâng cao trình độ quản lý của mình nếu không muốn bị đào thải. Khi còn độc quyền thì lợi ích của cá nhân không gắn kết với lợi ích của tập thể, có một số nhà quản trị chạy theo lợi ích riêng, họ sử dụng những tiện ích, những thông tin biết trước của doanh nghiệp mình để chuyển cơ hội kinh doanh sang doanh nghiệp khác để tư lợi.
Để tư lợi, họ có thể lấy lãi tuồn ra ngoài hoặc sử dụng các “công ty ngoài khơi” độc quyền cung cấp hoặc tiêu thụ một số lĩnh vực, để chuyển lãi qua các công ty này. Một số nhà quản trị không trung thực đã thành lập những công ty riêng của mình rồi thông qua khế ước mua bán, hoa hồng… để chuyển lợi nhuận từ doanh nghiệp mình quản lý sang công ty riêng. - Cổ phần hoá làm tăng hiệu quả trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp. Vấn đề này không chỉ tác động đến lãnh đạo doanh nghiệp mà các tác động mạnh hơn đến lãnh đạo các địa phương và ban ngành.
Vì khi đã cổ phần hoá thì mọi quyền quyết định về nhân sự, định hướng, chiến lược… đều do cổ đông quyết định. Mọi quyền của giám đốc doanh nghiệp đều bị giám sát chặt chẽ bởi các cổ đông. 11 Cổ phần hoá nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có chủ sở hữu là người lao động, để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tạo cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp, đồng thời có thể giúp doanh nghiệp có thể huy động vốn trong toàn xã hội. Hiệu quả quản lý và năng lực kinh doanh được cải thiện rõ rệt, nâng cao sức cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp, đồng thời người lao động sẽ tích cực hơn trong công việc, nâng cao hiệu quả làm việc.
- Cổ phần hoá giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá để tăng cường khả năng tiêu thụ sản phẩm và nâng cao hiệu quả hạch toán. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và hàng hoá Việt Nam, chúng ta cần phải tạo ra một “sân chơi” bình đẳng về mặt pháp lý. Không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế để tiến tới cùng hoạt động thống nhất theo luật doanh nghiệp. Đẩy mạnh việc chống độc quyền thông qua bãi bỏ đặc quyền và những ưu đãi về thương mại, thuế, tín dụng, giải quyết nợ tồn đọng, cấp phép đầu tư, giao đất, quy định giá cả… Điều này một mặt, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, khơi dậy động lực phát triển; mặt khác thể hiện sự phù hợp với lộ trình cắt giảm thuế quan.
- Cổ phần hoá làm cho doanh nghiệp lớn mạnh hơn, người lao động có thu nhập cao hơn, đóng góp ngân sách cao hơn. Hình thức cổ phần hoá tạo điều kiện cho người lao động làm chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp sau cổ phần hoá hoạt động hiệu quả hơn. Chính vì vậy, chúng ta vẫn kiên trì con đường cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Việc cổ phần hoá một số doanh nghiệp quy mô lớn, Nhà nước giữ cổ phần chi phối đã thu hút được nhiều vốn từ xã hội, tạo điều kiện đổi mới công nghệ, thay đổi phương thức tổ chức quản lý.
DNNN độc quyền đã chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, giảm hẳn sự hỗ trợ của Nhà nước. Việc hỗ trợ của Nhà nước thực hiện theo Ngành, Vùng không phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp. Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thông qua hình thức đặt hàng hoặc đầu thầu. Việc này làm cho tính năng động, chủ động của mỗi doanh nghiệp được nâng cao.
Ngân sách Nhà nước được chi tiêu hiệu quả hơn là do Nhà nước đã cắt giảm đáng kể việc bảo hộ, bao cấp cho những doanh nghiệp hoạt động yếu kém. 12 - Cổ phần hoá giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia điều hành và quản lý doanh nghiệp. Điều này được thực hiện sẽ có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, điều này làm cho thị trường vốn Việt Nam thêm phong phú và đa dạng, đồng thời chúng ta có thêm kinh nghiệm quản lý. - Cổ phần hoá thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tuy số lượng DNNN tiến hành cổ phần hoá tăng không nhiều, nhưng những doanh nghiệp đã cổ phần hoá là những doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, hấp dẫn công chúng đầu tư. Đặc biệt trong năm 2007 này sẽ hứa hẹn hàng loạt những công ty lớn sẽ cổ phần hoá như Mobifone, Ngân hàng Vietcombank, Điện lực… Tất cả những động thái trên đã tạo nên không khí sôi động cho thị trường chứng khoán Việt nam trong năm. Cổ phần hoá đã tạo ra lượng cung chủ yếu cho thị trường chứng khoán non trẻ của nước ta. Trên thực tế, cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hoá đã trở thành hàng hoá chủ lực trên cả thị trường chứng khoán chính thức và thị trường OTC.
Tóm lại, do mục đích cổ phần hoá DNNN của nước ta đồng thuận với mục tiêu của thị trường chứng khoán, nên cổ phần hoá DNNN đã tạo điều kiện căn bản về hàng hoá, về tổ chức phát hành, về nhà đầu tư cho thị trường chứng khoán có điều kiện ra đời và phát triển.2- Lý luận về công ty cổ phần: 1.1 – Khái niệm công ty cổ phần: Công ty cổ phần (Joint – stock Company) ra đời là do yêu cầu tất yếu khách quan của nền đại công nghiệp – cơ khí, với trình độ khoa học – kỹ thuật cao. Công ty cổ phần có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường. Theo Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phiếu của mình cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 13 - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa. - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.2 – Đặc điểm công ty cổ phần: - Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người chủ sở hữu vốn cổ phần gọi là cổ đông.
Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần.