MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Hiện nay nợ công đang là một vấn đề được các cơ quan nhà nước và xã hội quan tâm. Để đảm bảo an toàn nợ công, Quốc hội và Chính phủ đã đề ra các tiêu chí cụ thể, cần đảm bảo thực hiện. Kinh nghiệm các nước cho thấy các tỷ lệ này không phản ánh hết các khía cạnh cần quan tâm về quản lý nợ công.
Việc Chính phủ vay nợ để chi trả cho các hoạt động thường xuyên và đầu tư phát triển là hoạt động bình thường. Ở các nước phát triển, Chính phủ vay nợ chủ yếu là để thực hiện các chương trình đầu tư phát triển, tăng phúc lợi xã hội hoặc thực hiện chính sách tài khóa nhằm chống lại chu kỳ suy thoái của nền kinh tế và phần lớn nợ công là nợ trong nước dưới hình thức trái phiếu Chính phủ (còn đối với các nước đang phát triển nợ công thường là các khoản vay nước ngoài). Ở các nước đang phát triển, nợ Chính phủ thường được dùng để bù đắp cho thiếu hụt đầu tư. Tương tự như nhiều nước đang phát triển khác, dư nợ công và nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam cũng đã có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây.
Việc thu ngân sách nhà nước thường xuyên thâm hụt, sự gia tăng về dư nợ công ở Việt Nam là điều không tránh khỏi, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn cho đầu tư công đang rất cần thiết tăng mạnh, thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng. Năm 2001 tỷ lệ tổng số dư nợ công so với GDP (danh nghĩa) là 36,5% GDP đến năm 2005 đã tăng lên 42,6% GDP, 2010 lên 56,8% GDP, 2011 lên 54,9% GDP, năm 2012 là: 55,7% GDP và ước tính đến hết năm 2013 là: 56,5% GDP. Trong thời gian qua, công tác quản lý nợ công đã đạt được nhiều tiến bộ trên các phương diện như khung pháp lý (Luật quản lý nợ công được Quốc hội khóa XII ban hành năm 2009), tổ chức quản lý, xây dựng và áp dụng các công cụ quản lý chuẩn mực. Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia nằm trong giới hạn an toàn, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.
Cơ cấu nợ công đã hợp lý hơn, khá ổn định và tương đối bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được cũng cho thấy một số hạn chế cần tiếp tục được xem xét hoàn thiện trong thời gian tới. Đó là, các khung khổ pháp luật, cơ chế chính sách về quản lý nợ còn chưa đầy đủ, 2 thiếu đồng bộ; một số nghiệp vụ quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia chưa được khai thác một cách có hiệu quả; chưa triển khai quản lý nợ kết hợp với hiện đại hóa quản lý ngân quỹ/quản lý luồng tiền; hiệu quả sử dụng vốn vay còn hạn chế, tình trạng sử dụng vốn vay lãng phí, kém hiệu quả còn chậm được khắc phục; công tác kiểm tra, giám sát, quản lý rủi ro đối với danh mục nợ cũng chưa được chú trọng; bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý nợ công chưa được tăng cường, củng cố và kiện toàn. Điều đó càng khiến nợ công ở Việt Nam tăng cao và đang tiến tới mức nguy hiểm.
Để góp phần vào việc quản lý nợ đảm bảo yêu cầu mà Quốc hội và Chính phủ đã đề ra, tôi đã lựa chọn Đề tài “Tăng cƣờng quản lý nợ công ở Việt Nam”. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước - Các nghiên cứu ngoài nước về nợ công và quản lý nợ công chủ yếu được các tổ chức quốc tế đưa ra. Ngay từ những năm 1980 của thế kỷ 20 cũng đã bắt đầu có những thảo luận khoa học về nợ công như: định nghĩa, cách tính, các nhân tố tác động, chỉ tiêu đánh giá, giám sát các chỉ tiêu nợ công, an toàn nợ công, giới hạn của nợ công và khủng hoảng nợ công,… Tuy nhiên, các thảo luận đó cũng là những thảo luận khá chuyên biệt và đến nay cũng có một số vấn đề về nợ công (chỉ tiêu an toàn nợ công, giới hạn bền vững của nợ công,…) đã dần không còn phù hợp trong bối cảnh thị trường tài chính thế giới có nhiều biến động và trở nên ngày càng phức tạp, đặc biệt là mối liên hệ giữa nợ quốc gia và sự lệ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa nợ quốc gia với hệ thống thị trường tài chính quốc tế.
- Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong nhiều năm qua có nhiều nghiên cứu về quản lý nợ và xuất bản những cẩm nang về thông lệ quản lý nợ tốt cùng với những bình luận khoa học chung về quản lý nợ thận trọng, an toàn và bền vững. Tuy nhiên, với những diễn biến gần đây về khủng hoảng nợ công thì những thảo luận, cảnh báo, định hướng đó dường như chưa đủ. Bắt đầu từ những năm 2007-2008 tại Châu âu đã có những bài nghiên cứu độc lập về cái gọi là bẫy nợ công và khuyến nghị về việc tiếp tục những quy định về hãm phanh đối với vay nợ 3 của Chính phủ, của khu vực công. Các thảo luận đó đang được làm mới và trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết kể từ khi châu âu rơi vào nguy cơ khủng hoảng nợ công hành loạt.
Các thảo luận đó vẫn còn tiếp diễn, đặc biệt sôi nổi ở các cơ quan nghiên cứu của Thụy sĩ, Đức, Anh, Thủy điển,… Các nghiên cứu này có tính chất đơn lẻ, của các tổ chức, cá nhân và áp dụng với từng trường hợp cụ thể. Các nghiên cứu liên quan đến quản lý nợ công trên phạm vi quốc tế là khá đa dạng, chủ yếu xoay quanh các câu hỏi về mối quan hệ thâm hụt ngân sách với giới hạn nợ công; khủng hoảng nợ công; các yếu tố hình thành nợ công và quan hệ giữa nợ công - tăng trưởng - lạm phát, GDP, trả nợ và sự ổn định của các cán cân đối ngoại. Như đã nêu trên, vấn đề cốt lõi của khủng hoảng nợ công ở Châu âu là vấn đề kỷ luật tài chính và ngân sách vì đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khủng hoảng nợ. Tuy nhiên, đây cũng là những vấn đề rất phức tạp mà Chính phủ các nước cần phải giải đáp thấu đáo: Để đảm bảo sự an toàn nợ công, các Chính phủ cần thiết phải có kỷ luật tài chính (giới hạn thâm hụt ngân sách và tăng trưởng nợ công như áp dụng đối với các nước Hiệp ước Maatrich); việc áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng của các chính phủ trong những giai đoạn khó khăn lại càng đẩy nền kinh tế lâm vào khủng hoảng sâu hơn nữa và tạo ra các vấn đề xã hội.
Tình hình nghiên cứu trong nước - Các nghiên cứu trong nước về nợ công ở Việt Nam còn rất mới mẻ, mới chỉ xuất hiện từ những năm 2007-2008 khi Việt Nam được sự hỗ trợ kỹ thuật của một số tổ chức quốc tế như UNDP, WB, các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý nợ công ở các nước (Anh, New Zealand và Thụy Điển) thì khi đó mới hình thành khái niệm và phạm vi của nợ công. Các nghiên cứu và khuyến nghị có liên quan chủ yếu nhằm mục tiêu giúp Chính phủ (Bộ Tài chính) Việt Nam xây dựng Luật Quản lý nợ công theo hướng bao quát cả nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Ngoài ra, với mục đích thống nhất quản lý, khái niệm nợ công cũng đã bao hàm tất cả các khoản nợ phân theo nguồn phát sinh nợ: nợ trong nước và nợ nước ngoài. Về nguồn phát sinh, nợ gồm các khoản nợ phát sinh từ vay trong nước thông qua phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa 4 phương, các hình thức vay nợ trực tiếp khác; vay nợ nước ngoài qua vay vốn vay ưu đãi, vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay thông qua phát hành trái phiếu của Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế.
Việc thống nhất khái niệm và thống nhất quản lý nợ công một mặt đã thể hiện được quan điểm về tầm quan trọng của quản lý nợ công trong nền kinh tế nhưng cũng đạt ra yêu cầu thực hiện quản lý theo mô hình hiện đại và phương thức quản lý mới cũng như áp dụng những thông lệ hiện đại, trong đó đặc biệt cần chú trọng công tác kế hoạch, công tác quản lý rủi ro và xây dựng chiến lược dài hạn, gắn với chiến lược phát triển kinh tế trung hạn và dài hạn. - Mới đây, lần đầu tiên, Bộ Tài chính ban hành Bộ tài liệu khá tổng quan về chiến lược quản lý nợ công cho giai đoạn 2020 và tầm nhìn 2030, trong đó đã bao hàm nhiều nội dung quản lý nợ công, gồm cả nội dung và định hướng quản lý nợ công. Đây là một chiến lược tổng thể được xây dựng trên cơ sở pháp lý là Luật quản lý nợ công và gắn kết với những dự báo và kế hoạch phát triển kinh tế trong từng giai đoạn tương ứng. Bên cạnh việc bước đầu xây dựng được chiến lược quản lý nợ công, công tác quản lý đòi hỏi phải đánh giá kỹ lưỡng hơn về các yếu tố tác động và quyết định đối với công tác quản lý nợ công trong hiện tại và tương lai.
Cho đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu về quản lý nợ công ở Việt Nam. Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và mục tiêu cụ thể khác nhau (các tài liệu chính chủ yếu là các Hội thảo, các bài báo hoặc tạp chí được trình bầy dưới dạng nêu vấn đề và sự việc, có ý kiến bình luận và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp).