Tổng quan về luận án
Sự chuyển dịch của giáo dục đại học (GDĐH) toàn cầu từ mô hình tinh hoa sang đại chúng hóa đã đặt các hệ thống đại học công lập trước áp lực kép: nhu cầu tiếp cận đào tạo gia tăng vượt bậc trong khi nguồn lực ngân sách nhà nước (NSNN) ngày càng thu hẹp. Tại Việt Nam, chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học và đẩy mạnh xã hội hóa đã được định hình xuyên suốt từ Nghị quyết số 90-CP (1997), Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, đến Nghị quyết số 19-NQ/TW (2017) và được luật hóa tại Luật Giáo dục đại học sửa đổi, bổ sung năm 2018 (có hiệu lực từ tháng 7/2019). Tuy nhiên, cơ chế tài chính thực tế vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính cơ cấu, khiến các cơ sở GDĐH công lập rơi vào tình trạng mất cân đối nguồn lực nghiêm trọng.
Khoảng trống nghiên cứu then chốt (research gap) mà luận án giải quyết chính là: Thiếu hụt một khung phân tích định lượng toàn diện và mô hình kinh tế lượng xác định rõ các nhân tố cấu trúc tác động đến từng dòng thu nhập của trường đại học công lập trong bối cảnh chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tại một nền kinh tế đang phát triển. Đa số các công trình trước đây chỉ khai thác dữ liệu thứ cấp từ "Báo cáo 3 công khai" với thống kê mô tả đơn biến, chưa tích hợp được số liệu quyết toán thực tế với khảo sát vi mô để đánh giá đồng thời hai trụ cột: đa dạng hóa nguồn thu (revenue diversification) và nâng cao hiệu quả phân bổ tài chính công (public funding efficiency).
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thùy Linh (2020) với tiêu đề "Tăng cường các nguồn lực tài chính cho phát triển các trường đại học công lập ở Việt Nam", chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (Mã số: 9340201.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Định tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giải quyết tường minh 03 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ):
- RQ1: Đâu là các cơ chế phù hợp và khả thi giúp tăng cường nguồn lực tài chính cho phát triển các trường đại học công lập trên thế giới và ở Việt Nam?
- RQ2: Những nhân tố nào tác động có ý nghĩa thống kê tới việc tăng cường từng dòng nguồn lực tài chính trong các trường đại học công lập tại Việt Nam?
- RQ3: Hệ thống giải pháp và lộ trình chính sách tài chính nào cần được thiết lập nhằm phát triển bền vững các trường đại học công lập Việt Nam đến năm 2030?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được thiết lập xoay quanh 07 nhân tố: Địa điểm trường ($H_1$), Tuổi/Thâm niên thành lập ($H_2$), Ngành nghề đào tạo ($H_3$), Mức độ tự chủ ($H_4$), Năng lực công bố quốc tế ($H_5$), Quy mô đào tạo đại học ($H_6$), và Quy mô đào tạo sau đại học ($H_7$). Khung lý thuyết tích hợp của luận án vận dụng Lý thuyết Chia sẻ chi phí (Cost-sharing Theory), Lý thuyết Phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependency Theory), và Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Management). Luận án được thực hiện trên mẫu khảo sát 100 trường đại học và bộ dữ liệu tài chính quyết toán chuyên sâu 3 năm liên tục (2015–2017) của 44 trường đại học công lập trực thuộc các Bộ, ngành trung ương, tạo nên một cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực đầu tiên sau khi Luật Giáo dục đại học sửa đổi được ban hành.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về tài chính GDĐH cho thấy hai nhánh nghiên cứu học thuật lớn vận động song song nhưng thường thiếu sự kết nối hữu cơ:
Nhánh nghiên cứu thứ nhất tập trung vào đa dạng hóa nguồn thu (Revenue Diversification). Ngay từ cuối thập niên 1970, Jallade (1978) đã dự báo sự tất yếu của việc chấm dứt mô hình bao cấp 100% khi nhu cầu giáo dục bùng nổ, khẳng định học phí là công cụ chia sẻ chi phí không thể tránh khỏi dù tiềm ẩn rủi ro bất bình đẳng. Tiếp đó, Psacharopoulos (1990) định hình các nguyên tắc ưu tiên đầu tư công, trong khi Brunner (1993) tại Chile và Weidman (1995) tại Kenya, Mông Cổ đã chuẩn hóa 4 trụ cột nguồn thu ngoài ngân sách: học phí, hợp đồng dịch vụ công - tư, quỹ hiến tặng và tín dụng sinh viên. Gần đây, Leshanych, Miahkykh và Shkoda (2019) cùng Stachowiak-Kudła và Kudła (2017) khẳng định đa dạng hóa nguồn thu là tiền đề sống còn cho sự ổn định tài chính của GDĐH châu Âu trước các cú sốc tài khóa.
Tại Việt Nam, Trần Thị Bích Ngọc (2017), Bùi Tiến Hanh (2007), và Trần Quang Hùng (2016) phân tích sâu về khía cạnh thể chế học phí và cơ chế trần học phí. Đáng chú ý, nghiên cứu định lượng của Phùng Xuân Nhạ và Phạm Xuân Hoan (2013) đã chứng minh tỷ suất sinh lời cá nhân của GDĐH: "đối với cá nhân, bình quân đầu tư 100 đồng cho GDĐH sẽ thu được lợi ích là 324,46 đồng nhờ tăng năng suất lao động", đồng thời khẳng định "Hiệu quả đầu tư cho GDĐH tương đương lãi suất đầu tư vốn thực dương 3,15%/năm đối với cá nhân người học và 2,91%/năm đối với xã hội". Phạm Phụ (2011) vận dụng mô hình J-Model nhấn mạnh việc duy trì học phí thấp nhân tạo thực chất gây mất công bằng xã hội sâu sắc hơn vì tầng lớp thu nhập khá trở lên đang chiếm phần lớn cơ hội tiếp cận đại học công.
Nhánh nghiên cứu thứ hai đi sâu vào hiệu quả sử dụng tài chính công và phân bổ ngân sách theo kết quả (Performance-Based Funding). Hansen và Weisbrod (1969) đã đưa ra phát hiện kinh điển tại bang California rằng trợ cấp đại học công cào bằng dẫn đến nghịch lý "người nghèo trợ cấp cho người giàu đi học". Keller (1970), Thanassoulis và cộng sự (2011), Sav (2012) và Wolszczak-Derlacz và Parteka (2011) đã ứng dụng kỹ thuật Phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) để chứng minh các trường đại học quy mô lớn đạt hiệu suất quy mô cao hơn và khuyến nghị kết hợp định lượng đầu ra với đánh giá đồng nghiệp (peer review). Tại Việt Nam, Vũ Như Thăng và Hoàng Thị Minh Hảo (2012), Đặng Văn Du (2004), và Carolyn Tran cùng cộng sự (2017) đã chỉ ra các bất cập của cơ chế cấp phát ngân sách theo yếu tố đầu vào lịch sử (historical line-item budgeting), nhưng còn thiếu các mô hình hồi quy suy luận xác định các yếu tố cản trở tái cơ cấu dòng tiền.
Luận án định vị mình ở điểm giao thoa giữa hai trường phái, đối sánh trực tiếp kinh nghiệm của Australia (mô hình tài trợ theo Khung Chương trình Hỗ trợ Khối Thịnh vượng chung - CGS kết hợp hệ thống Tín dụng đóng góp đại học - HECS/ICL) và Trung Quốc (chiến lược phân bổ ngân sách chọn lọc mũi nhọn thông qua Dự án 211 và Đề án 985/C9) để tìm ra mô hình phù hợp cho Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Phụ thuộc Nguồn lực (Resource Dependency Theory) trong bối cảnh các tổ chức công lập thuộc nền kinh tế chuyển đổi. Bằng chứng thực nghiệm chứng minh rằng khi mức độ bao cấp của nhà nước suy giảm, các trường đại học không tự động đa dạng hóa sang các nguồn thu thị trường phức tạp (như R&D, chuyển giao công nghệ hay hiến tặng) mà có xu hướng dịch chuyển cực đoan sang nguồn thu dễ khai thác nhất là học phí đại chúng. Hiện tượng này khẳng định sự tồn tại của cơ chế "thay thế nguồn thu tuyến tính" thay vì "đa dạng hóa nguồn thu cân bằng".
Đồng thời, nghiên cứu làm sâu sắc thêm Lý thuyết Chia sẻ Chi phí của D. Bruce Johnstone bằng cách lượng hóa mối quan hệ giữa trần học phí pháp lý và năng lực tự bù đắp chi phí đào tạo, chứng minh rằng sự kìm hãm giá dịch vụ đào tạo dưới chi phí đơn vị thực tế (unit cost) làm méo mó cấu trúc chi tiêu học thuật và triệt tiêu động lực cạnh tranh chất lượng.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp 3 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Hàng hóa công và Ngoại tác tích cực, Lý thuyết Quản trị công mới (NPM), và Lý thuyết Tự chủ đại học. Khung phân tích xác lập 4 cơ chế trụ cột:
$$\text{Nguồn lực tài chính GDĐH} = f(\text{Cơ chế NSNN}, \text{Chính sách học phí - ICL}, \text{Thương mại hóa KH&CN}, \text{Hợp tác PPP - Hiến tặng})$$
Điều kiện biên (boundary conditions) của mô hình áp dụng đối với các trường đại học công lập trực thuộc các cơ quan trung ương, có tư cách pháp nhân độc lập, không áp dụng cho các cơ sở giáo dục đại học quốc tế đặc thù hoặc các trường cao đẳng địa phương mới nâng cấp.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu đứng trên lập trường nhận thức luận Thực chứng (Positivism) kết hợp Hiện thực có phê phán (Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level mixed-methods design) tích hợp chặt chẽ giữa phân tích định lượng suy luận kinh tế lượng và phân tích định tính so sánh thể chế chính sách:
Quy trình nghiên cứu rigorous
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra thiết kế chuẩn hóa gửi tới Ban Giám hiệu, Phòng Tài chính - Kế hoạch, và Phòng Quản lý Khoa học của 100 trường đại học trên toàn quốc, đại diện cho đầy đủ các vùng kinh tế trọng điểm (Bắc, Trung, Nam) và các khối ngành (Kinh tế - Luật, Kỹ thuật - Công nghệ, Y Dược, Sư phạm, Nông Lâm). Dữ liệu thứ cấp được đối chiếu chéo (data triangulation) trực tiếp từ Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước của Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ GD&ĐT), Bộ Tài chính, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2015–2017.
Độ tin cậy thang đo được kiểm soát bằng hệ số Cronbach's Alpha ($\alpha > 0.82$), độ giá trị hội tụ và giá trị phân biệt được kiểm định qua phân tích nhân tố khám phá (EFA). Tính giá trị nội tại (internal validity) được bảo đảm bằng cách loại trừ các điểm dị biệt (outliers) và xử lý hiện tượng phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) thông qua kỹ thuật ước lượng sai số chuẩn vững (Robust Standard Errors).
Data và phân tích
Mô hình kinh tế lượng sử dụng kỹ thuật hồi quy bình phương bé nhất đa biến (Multivariate OLS Regression) với biến phụ thuộc là các chỉ tiêu phản ánh mức độ gia tăng và cơ cấu nguồn lực tài chính ($Y_1, Y_2, Y_3$), các biến độc lập đại diện cho 07 nhân tố cấu trúc:
$$Y_i = \beta_0 + \beta_1 \text{Region}_i + \beta_2 \text{Age}_i + \beta_3 \text{Field}_i + \beta_4 \text{Autonomy}_i + \beta_5 \text{PubScore}_i + \beta_6 \text{UndergradSize}_i + \beta_7 \text{GradSize}_i + \varepsilon_i$$
Toàn bộ quy trình phân tích định lượng được thực hiện trên phần mềm thống kê chuyên dụng Stata và SPSS, các ước lượng đều được kiểm tra đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF < 2.5), bảo đảm độ tin cậy thống kê ở mức ý nghĩa $p < 0.05$ và $p < 0.01$.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Sự lệch chuẩn cấu trúc dòng tiền nghiêm trọng: Kết quả phân tích thống kê 3 năm (2015–2017) trên 44 trường đại học công lập chỉ ra rằng nguồn thu của các trường phụ thuộc gần như tuyệt đối vào hai kênh truyền thống là NSNN và học phí (chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 98% - 99%). Dòng thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ chỉ chiếm tỷ lệ danh nghĩa 0.5% - 1.2%, và nguồn thu từ tài trợ, hiến tặng (endowments) gần như bằng 0%. Bằng chứng này phản ánh chính xác nhận định của Vũ Thị Thanh Thủy (2013): "Nguồn thu NSNN và học phí vẫn là nguồn thu chính của các trường (chiếm 99%)".
- Nghịch lý tự chủ tài chính theo Nghị quyết 77/NQ-CP: Việc thí điểm tự chủ chi thường xuyên thực chất biến thành cơ chế "cắt giảm ngân sách đột ngột", buộc các trường phải bù đắp thâm hụt bằng cách tăng học phí tối đa theo khung quy định và tăng quy mô tuyển sinh đại học chính quy ($p < 0.01$). Điều này dẫn đến sự chèn ép (crowding-out) các nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu cơ bản và làm trầm trọng thêm rủi ro bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục đại học.
- Vai trò đòn bẩy của đào tạo sau đại học và công bố quốc tế: Phân tích hồi quy xác nhận biến năng lực công bố quốc tế ($\text{PubScore}$, $p < 0.01$) và quy mô đào tạo sau đại học ($\text{GradSize}$, $p < 0.05$) có hệ số tác động dương có ý nghĩa thống kê cao nhất tới khả năng thu hút nguồn kinh phí KH&CN ngoài NSNN ($Y_3$). Ngược lại, quy mô đào tạo đại học ($\text{UndergradSize}$) chỉ có ý nghĩa làm tăng nguồn thu học phí thuần túy ($Y_2$) nhưng không thúc đẩy được nguồn thu dịch vụ KH&CN.
- Sự kém hiệu quả của cơ chế cấp ngân sách cào bằng: Luận án chứng minh cơ chế cấp phát ngân sách thường xuyên dựa trên chỉ tiêu đầu vào lịch sử và biên chế nhân sự đã triệt tiêu động lực tối ưu hóa chi phí đơn vị và không tạo ra bất kỳ mối liên hệ nào với chất lượng đầu ra (tỷ lệ việc làm của sinh viên hay số lượng phát minh sáng chế).
Học phí & Lệ phí người học [█████████████████████████████████████████████████] 65% - 75%
Ngân sách Nhà nước cấp [██████████████████] 24% - 33%
Dịch vụ KH&CN & Chuyển giao [█] 0.5% - 1.2%
Hiến tặng & Hợp tác PPP [ ] < 0.3%
=> TỔNG CỘNG HAI NGUỒN HỌC PHÍ + NSNN CHIẾM TỚI 99% TOÀN BỘ DÒNG TIỀN HOẠT ĐỘNG
Implications đa chiều
Limitations và Future Research
Nghiên cứu thẳng thắn nhìn nhận 03 giới hạn cốt lõi:
- Giới hạn khung thời gian và độ trễ chính sách: Dữ liệu tài chính tập trung giai đoạn 2015–2017 phản ánh giai đoạn chuyển giao thí điểm Nghị quyết 77/NQ-CP; các tác động toàn diện của Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 (áp dụng từ 2019) cần thêm thời gian để tích lũy dữ liệu chuỗi thời gian (time-series data).
- Phạm vi mẫu nghiên cứu: Luận án chủ động khoanh vùng các trường trực thuộc bộ ngành trung ương, loại trừ các trường đại học quốc tế đặc thù (như ĐH Việt Đức, ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội - Việt Pháp) và khối đại học địa phương, do đó một số phát hiện có thể cần hiệu chỉnh khi ngoại suy cho toàn bộ hệ sinh thái.
- Phương pháp đo lường hiệu suất: Luận án chủ yếu tập trung vào mô hình hồi quy nhân tố ảnh hưởng cấu trúc thu, chưa tích hợp mô hình đo lường hàm chi phí biên (stochastic frontier analysis) và hiệu quả kỹ thuật theo phương pháp DEA đa kỳ.
Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo (2021–2030) đề xuất tập trung vào:
- Đánh giá tác động dài hạn (Longitudinal panel analysis) của Luật GDĐH 2018 đối với tính độc lập tài chính của đại học công lập giai đoạn 2020–2025.
- Thiết kế mô hình kinh tế lượng mô phỏng vi mô (microsimulation) đánh giá rủi ro tài khóa và khả năng thu hồi vốn của quỹ Tín dụng sinh viên hoàn trả theo thu nhập (ICL) tại Việt Nam.
- Nghiên cứu kinh tế lượng về hiệu quả chi phí - lợi ích (Cost-Benefit Analysis) của các mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp spin-off trong lòng viện - trường.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Cung cấp bộ khung lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm chuẩn xác đầu tiên về kinh tế học tài chính GDĐH Việt Nam trong kỷ nguyên tự chủ; tạo tiền đề cho hàng loạt nghiên cứu tiếp nối về quản trị tài chính công và kinh tế giáo dục.
- Cải cách chính sách vĩ mô: Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các cơ quan hoạch định chính sách cấp cao như Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ GD&ĐT), và Vụ Tài chính Hành chính Sự nghiệp (Bộ Tài chính) trong việc xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 86/2015/NĐ-CP về cơ chế thu, quản lý học phí và lộ trình tự chủ đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW.
- Tác động xã hội và công bằng: Đề xuất cơ chế tín dụng ICL giúp hóa giải mâu thuẫn giữa lộ trình tăng học phí tính đủ chi phí và quyền tiếp cận đại học của các nhóm yếu thế, bảo đảm an sinh xã hội bền vững.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận được bộ khung phân tích chuẩn mực, hệ thống biến số kinh tế lượng và nguồn tài liệu tham khảo phong phú về tài chính công trong giáo dục.
- Nhà hoạch định chính sách (Bộ GD&ĐT, Bộ Tài chính, Bộ KH&CN): Sở hữu căn cứ khoa học và số liệu thực chứng xác đáng để thiết kế các định mức kinh tế - kỹ thuật, xây dựng cơ chế đấu thầu đặt hàng đào tạo và tiêu chí phân bổ NSNN theo kết quả đầu ra.
- Ban Giám hiệu và Hội đồng trường các đại học công lập: Có được cẩm nang chiến lược để tái cấu trúc dòng tiền, đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ KH&CN, khai mở quỹ hiến tặng và chuyên nghiệp hóa hoạt động quản trị tài chính.
- Doanh nghiệp và Nhà đầu tư: Nắm bắt cơ chế hợp tác công - tư (PPP) và các hành lang pháp lý để liên kết đầu tư R&D, thành lập trung tâm ươm tạo công nghệ tại các trường đại học.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của nghiên cứu là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Nghiên cứu đã mở rộng Lý thuyết Phụ thuộc Nguồn lực (Resource Dependency Theory) của Pfeffer & Salancik bằng việc nhận diện quy luật "dịch chuyển thay thế đơn nguồn" (single-source substitution) tại các trường đại học công lập ở nền kinh tế chuyển đổi: Khi nhà nước cắt giảm nguồn thu truyền thống (NSNN), các cơ sở giáo dục không dịch chuyển sang mô hình đa nguồn lực cân bằng (nghiên cứu, dịch vụ, hiến tặng) mà tập trung tối đa hóa nguồn thu người học (học phí), tạo nên sự méo mó trong cấu trúc thực hiện sứ mạng học thuật nếu thiếu các cơ chế điều tiết vĩ mô.
2. Đổi mới phương pháp luận của luận án so với các nghiên cứu trước đây?
So với các nghiên cứu trước đây (như Đặng Văn Du 2004, Bùi Tiến Hanh 2007 chỉ dừng ở phân tích chính sách định tính; hoặc Carolyn Tran 2017 chỉ sử dụng dữ liệu thứ cấp từ 3 công khai), luận án đã:
- Tích hợp thành công dữ liệu khảo sát vi mô độc lập trên 100 trường với dữ liệu quyết toán ngân sách thực tế 3 năm (2015–2017) của 44 trường đại học công lập từ Bộ Tài chính và Bộ GD&ĐT.
- Sử dụng mô hình hồi quy kinh tế lượng đa biến OLS với kỹ thuật xử lý sai số chuẩn vững Robust Standard Errors để lượng hóa đồng thời tác động của 07 nhân tố cấu trúc lên 03 dòng nguồn lực tài chính độc lập.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là biến "Cơ chế tự chủ" theo Nghị quyết 77/NQ-CP có mối quan hệ đồng biến rất mạnh với tỷ lệ nguồn thu học phí ($p < 0.01$) nhưng lại không có tác động có ý nghĩa thống kê tới việc gia tăng tỷ lệ nguồn thu từ KH&CN ngoài NSNN ($p > 0.10$). Điều này bác bỏ giả định lý thuyết thông thường cho rằng tự chủ sẽ tự động kích thích năng lực thương mại hóa nghiên cứu khoa học của trường đại học, chứng minh rằng nếu không có cơ chế vốn mồi và chính sách ưu đãi thuế vượt trội, tự chủ chỉ đơn thuần đẩy gánh nặng tài chính sang vai người học.
4. Quy trình nhân bản nghiên cứu (Replication Protocol) được cung cấp như thế nào?
Luận án cung cấp bảng câu hỏi khảo sát chuẩn hóa tại phụ lục, bảng định nghĩa chi tiết các biến số kinh tế lượng, mô tả thống kê mô tả, ma trận tương quan Pearson, và bảng kết quả ước lượng hồi quy chi tiết cho từng mô hình $Y_1, Y_2, Y_3$. Bất kỳ nhà nghiên cứu nào có quyền tiếp cận số liệu báo cáo tài chính quyết toán của các trường đại học đều có thể tái lập quy trình tính toán và kiểm định mô hình với độ tin cậy tuyệt đối.
5. Khung chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo ra sao?
Khung nghiên cứu 10 năm (2021–2030) vạch rõ 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 2021–2023: Xây dựng mô hình tính toán chi phí đơn vị đào tạo theo từng khối ngành và mô phỏng tác động tài khóa của cơ chế đấu thầu đặt hàng đào tạo.
- Giai đoạn 2024–2026: Đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các quỹ tài trợ đại học (Endowments) và mô hình công ty khởi nguồn công nghệ (Spin-off).
- Giai đoạn 2027–2030: Thiết lập mô hình hồi quy dữ liệu bảng động (Dynamic Panel Data / GMM) đánh giá tác động của tài chính GDĐH đến năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Kết luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về kinh tế học tài chính GDĐH, xác lập khung phân tích đa chiều tích hợp giữa đa dạng hóa dòng thu và phân bổ hiệu quả ngân sách nhà nước trong bối cảnh tự chủ đại học.
- Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn cảnh và chân thực nhất về cơ cấu nguồn lực tài chính của 44 trường đại học công lập trọng điểm giai đoạn 2015–2017, chỉ rõ sự phụ thuộc gần như tuyệt đối (99%) vào hai nguồn NSNN và học phí.
- Mô hình kinh tế lượng của luận án đã lượng hóa thành công tác động của 07 nhân tố cấu trúc vĩ mô và vi mô, chứng minh vai trò quyết định của năng lực công bố quốc tế và quy mô đào tạo sau đại học đối với năng lực huy động nguồn lực KH&CN phi ngân sách.
- Nghiên cứu đã đối sánh sâu sắc các kinh nghiệm cải cách tài chính công quốc tế (tiêu biểu là mô hình CGS/HECS của Australia và Đề án 985 của Trung Quốc) để đúc rút bài học thích ứng cho điều kiện thể chế của Việt Nam.
- Luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ, mang tính đột phá và khả thi cao: chuyển đổi cơ chế phân bổ NSNN từ cấp phát đầu vào sang hợp đồng hiệu suất đầu ra (Performance Contracts), thực hiện cơ chế học phí tính đúng tính đủ gắn liền với Quỹ tín dụng sinh viên hoàn trả theo thu nhập (ICL), và hoàn thiện hành lang pháp lý phát triển doanh nghiệp KH&CN trong đại học.
- Công trình mở ra một hệ hình nghiên cứu mới về quản trị tài chính công trong giáo dục, tạo lập nền tảng khoa học vững chắc phục vụ công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam hội nhập thành công với chuẩn mực quốc tế.