Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo. Chương 2: Phân tích, đánh giá quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo ở thị xã Bình Minh. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo ở thị xã Bình Minh. Kết luận và kiến nghị.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1. Khái niệm chi ngân sách nhà nƣớc cho giáo dục đào tạo 1. Ngân sách nhà nƣớc a. Khái niệm Từ “ngân sách” được lấy ra từ thuật ngữ “budjet” một tiếng Anh thời trung cổ, dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa những khoản tiền chi tiêu công cộng.
Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà vua cho những mục đích công cộng như: đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đường xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau. Khi giai cấp tư sản lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và đòi hỏi tách biệt hai khoản chi tiêu này, từ đó nãy sinh khái niệm NSNN. Từ điển tiếng Việt thông dụng định nghĩa: “Ngân sách: tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định”. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.
Một cách hiểu tương tự, người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nước trong một năm. Hay: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước. NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Theo Luật NSNN năm 2002 đã được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002 khẳng định như sau: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”[12].
Về bản chất của NSNN đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể kinh tế khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách. 7 NSNN Việt Nam gồm: NSTW và NSĐP. NSĐP bao gồm ngân sách các đơn vị hành chính các cấp HĐND và UBND. NSĐP gồm ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã.1: Sơ đồ hệ thống NSNN Việt Nam b.
Đặc điểm của ngân sách nhà nước Hoạt động thu chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Hoạt động NSNN là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước. NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng. NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác.
Nét khác biệt của NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định. Hoạt động thu chi của NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước Nguyên tắc quản lý thống nhất, tập trung dân chủ Trong hoạt động ngân sách, nguyên tắc này có tầm quan trọng đặc biệt. Một mặt, nó đảm bảo sự thống nhất ý chí và lợi ích qua huy động và phân bổ ngân sách để có được những hàng hóa, dịch vụ công cộng có tính chất quốc gia.
Mặt khác, nó đảm bảo phát huy tính chủ động và sáng tạo của các địa phương, các tổ chức cá nhân trong đảm bảo giải quyết các vấn đề cụ thể, trong những 8 hoàn cảnh và cơ sở cụ thể. Tập trung ở đây không phải là quyền lực thực sự tập trung hết ở trung ương mà trên cơ sở phát huy dân chủ thực sự trong tổ chức hoạt động ngân sách các cấp chính quyền địa phương, các ngành, các đơn vị nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất trong chính sách tài chính, ngân sách quốc gia. Nguyên tắc này được quán triệt thông qua sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong phân cấp quản lý ở cả ba khâu của quy trình ngân sách. Nguyên tắc quản lý công khai, minh bạch Quản lý ngân sách đòi hỏi phải công khai, minh bạch xuất phát từ đòi hỏi chính đáng của người dân với tư cách là người nộp thuế cho Nhà nước.
Trong nguyên tắc này, phải đảm bảo hai nội dung chủ yếu sau: - Ngân sách phải đảm bảo tính toàn diện, tức là: + Các hoạt động trong và ngoài ngân sách điều phải phản ánh vào trong tài liệu trình quốc hội xem xét, quyết định. + Các hoạt động ngoài ngân sách điều phải thể hiện trong tài liệu ngân sách và báo cáo kế toán. + Các dự toán ban đầu và sửa đổi cho hai năm trước năm ngân sách cần được đính kèm trong tài liệu về ngân sách. + Mức nợ và cơ cấu nợ của chính quyền trung ương cần được báo cáo hàng năm.
+ Cơ sở cho lập NSNN như: các mục tiêu và chính sách ưu tiên cũng như các dự báo kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng cần được trình bày rõ ràng nhằm tạo điều kiện cho Quốc hội, HĐND có thể giám sát ngân sách. - Đảm bảo tính khách quan độc lập, đó là cần có cơ chế để báo cáo quyết toán của Chính phủ phải được cơ quan bên ngoài kiểm toán độc lập xác nhận. Các cơ quan như Tài chính, KBNN, các cơ quan thu của nhà nước phải niêm yết công khai quy trình, thủ tục tại nơi giao dịch, tài liệu về dự toán và phân bổ ngân sách được quy định đầy đủ, rõ ràng theo quy chế. Nguyên tắc quản lý đảm bảo trách nhiệm Trong phân cấp ngân sách, mỗi cấp chính quyền đều phân định nhiệm vụ chi cụ thể.
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào thì ngân sách cấp đó đảm bảo; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối nguồn ngân sách của từng cấp. Trong quản lý NSNN của nước ta hiện nay cũng dần dần hướng tới phương 9 thức quản lý ngân sách theo hướng hiện đại mà các nước đang từng bước áp dụng đó là, quản lý ngân sách theo đầu ra và kết quả hoạt động trong khuôn khổ tài chính trung hạn và khuôn khổ chi tiêu trung hạn. Nguyên tắc quản lý đảm bảo cân đối NSNN Đảm bảo cân đối ngân sách là một đòi hỏi có tính chất khách quan, xuất phát từ vai trò nhà nước trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu ổn định, hiệu quả và công bằng. Tính toán nhu cầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách là rất quan trọng.
Các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi có đầy đủ các khoản thu bù đắp. NSTW và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. NSTW giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách. NSĐP được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao.
HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định 3 đến 5 năm.
Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới. Trong thời kỳ ổn định ngân sách các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hàng năm mà NSĐP được hưởng để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển NSĐP, thực hiện giảm cân đối bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên. Ngoài việc ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy định, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ. Vai trò của ngân sách nhà nước NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước.
Cần hiểu rằng, vai trò của NSNN luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường, NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội. NSNN là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sảnxuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. Huy động các nguồn tài chính của NSNN để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước.