MỞ ĐẦU Mục đích của GDSK là cung cấp cho mọi người biết những kiến thức cần thiết để bảo vệ và tăng cường sức khoẻ. Ngành y tế dù có đầu tư nhiều đến đâu để phát triển các cơ sở phòng bệnh, chữa bệnh cũng không thể thực hiện hết mọi nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho mọi cá nhân trong cộng đồng. Chăm sóc sức khoẻ dựa vào sự tham gia của cộng đồng là một giải pháp mang lại hiệu quả cao. Chính các cá nhân trong cộng đồng mà các kiến thức khoa học về sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ sẽ là những người “thầy thuốc” thường xuyên chăm lo sức khoẻ cho họ, cho gia đình, và cho cộng đồng họ một cách lâu dài và có hiệu quả nhất.
Đây chính là chức năng của GDSK nhằm mục đích cuối cùng là làm cho đối tượng được GDSK thực hành các hành vi sức khoẻ lành mạnh. Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau không chỉ cá nhân cần thay đổi hành vi mà có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của họ. GDSK cần phân tích kỹ lưỡng các yếu tố này khi muốn thay đổi hành vi sức khoẻ của con người 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ Sức khoẻ là một lĩnh vực hết sức nhạy bén của cuộc sống.
Có thể nói rằng tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống đều tác động đến sức khoẻ hoặc chịu tác động của sức khoẻ. Các nguy cơ của sức khoẻ xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau. Một số nguy cơ có nguồn gốc sinh học trong đó những cái mang tính chất di truyền. Có những nguy cơ là hậu quả của hành vi cá nhân của con người.
Lại có những nguy cơ nãy sinh từ môi trường sống của từng cá nhân, bao gồm những tác động tự nhiên và những điều kiện kinh tế xã hội. Những nguy cơ này thường cùng tác động dẫn đến một bệnh nào đó.Việc kiểm soát những nguy cơ sức khoẻ không đơn giản, không thể đo được một cách chính xác tác động của từng yếu tố nguy cơ đối với sức khoẻ do tính chất phức tạp của chúng. Tuy nhiên, việc phân loại các yếu tố tác động đến sức khoẻ thành các nhóm lớn đã được một số người thực hiện. Để thuận tiện cho việc phân tích mối quan hệ giữa sức khoẻ và các yếu tố tác động có thể sử dụng phân loại theo tác giả Last và Wallet (1991) đưa ra.
Theo sự phân loại này các yếu tố được xếp thành 4 nhóm chính: 13 1. Các yếu tố di truyền: Một số bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm (sickle-cell anemia), đái đường có thể được truyền từ cha mẹ sang con cái. Đối với các bệnh mà yếu tố di truyền có thể là một nguyên nhân nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất như đái đường, béo phì, cao huyết áp, thì mỗi cá nhân cần tìm kiếm những lời khuyên về những việc cần làm để giảm nhẹ nguy cơ như thay đổi thói quen ăn uống hoặc cần được kiểm tra sức khoẻ thường xuyên. Trong những trường hợp này vai trò của người làm công tác GDSK rất quan trọng.
Mặc khác, vai trò con người ở đây là phải tiếp tục nâng cao sự hiểu biết về những yếu tố đột biến gen do một số nguyên nhân gây ra (Ví dụ các hoá chất có trong môi trường) và cũng nên khuyến khích những người có nguy cơ do tiền sử bản thân hoặc nằm trong nhóm có nguy cơ cao, quan tâm và tìm kiếm tư vấn liên quan đến di truyền giúp họ có quyết định phù hợp với hoàn cảnh riêng của họ. Các yếu tố môi trường: Môi trường tự nhiên: nhiệt độ, độ ẩm, mức độ ồn ào, các chất ô nhiễm, phóng xạ, thiên tai, lụt lội, gió bảo,… Khi con người bắt đầu có những khái niệm về sức khoẻ thì cũng nhận ra rằng sức khoẻ liên quan mật thiết với một số yếu tố nhất định của môi trường xung quanh. Việc bảo vệ môi trường (cũng là bảo vệ chính bản thân mình) trở thành mối quan tâm lớn và hàng đầu của các cơ quan pháp luật và thông tin đại chúng. Vấn đề môi trường lớn nhất ảnh hưởng đến sức khoẻ là sự ô nhiễm môi trường nước và thực phẩm là nguồn truyền các bệnh như tả, thương hàn.
Có rất nhiều vụ ngộ độc thức ăn đồ uống kể cả đồ hộp. Các bệnh nhiễm khuẩn và bệnh do ký sinh trùng gây ra vẫn còn phổ biến ở các nước đang phát triển là hậu quả của việc dùng nước không an toàn và việc quản lý rác chưa tốt. Môi trường xã hội: Các nhà dịch tể học đã kiểm tra để xác định những ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như thu nhập, học vấn, nghề nghiệp, giới, chủng tộc, tập quán, luật pháp, đạo đức,… đến sức khoẻ. Tình trạng kinh tế xã hội (được đánh giá dễ nhất qua thu nhập) liên quan chặt chẽ đến tình trạng sức khoẻ.
Người ta đã phát hiện qua các cuộc nghiên cứu rằng điều kiện kinh tế xã hội càng tốt thì tỉ lệ tử vong càng thấp. Những người theo cùng một tôn giáo thường có một số thói quen sức khoẻ giống nhau ví dụ như việc ăn chay, kiêng rượu bia,… Những nhóm người này thường có tỉ lệ bệnh tim mạch và ung thư thấp hơn. Môi trường nhân tạo như bếp lửa bất cẩn, nhà ở chật chọi, cống rảnh lộ thiên, chai lọ vỡ, đường xá tồi tệ có thể gây ra tai nạn; Điều kiện căng thẳng ở nơi làm việc, trong gia đình và tại cộng đồng,… có thể dẫn tới bệnh tật. Các yếu tố thuộc về chăm sóc sức khoẻ Chất lượng chăm sóc, khả năng sẵn có và việc sử dụng các dịch vụ y tế ,… đều có ảnh hưởng lớn.
Ví dụ, ở Mỹ tuổi thọ được nâng lên từ 47 tuổi, năm 1900, lên 75 tuổi. Nguyên nhân lớn nhất để nâng tuổi thọ là sự giảm tỉ lệ tử vong do các bệnh nhiễm khuẩn. Các cuộc nghiên cứu cho thấy có 3 yếu tố tác động mạnh nhất đến việc nâng cao sức khoẻ: - Chăm sóc y tế tốt hơn, thuốc tốt hơn - Dinh dưỡng được cải thiện - Điều kiện lao động tốt hơn an toàn hơn 14 1. Hành vi cá nhân Như sự lựa chọn của cá nhân về dinh dưỡng, nghĩ ngơi, thể dục rèn luyện thân thể, nghiện hút, hành vi tình dục,… tác động mạnh đến sức khoẻ.
Ở các nước đang phát triển, ngoài những những vấn đề sức khoẻ lớn là suy dinh dưỡng và nhiễm khuẩn, những vấn đề sức khoẻ của ngày nay còn có bệnh tim mạch, ung thư, nghiện hút… .Hút thuốc lá là hành vi có hại nhiều đối với sức khoẻ. Hút thuốc lá là một nguyên nhân của ung thư phổi, có liên quan đến bệnh tim mạch, viêm phế quản. Thói quen ăn uống quá nhiều mỡ làm tăng lượng cholesterol, một nguyên nhân gây bệnh tim béo phì cao huyết áp. Có những thức ăn chứa chất hoá học gây ung thư ví dụ như các loại thịt hun khói.
Nghiện rượu tiêm chích, ma tuý là một vấn đề được y tế công cộng rất quan tâm vì có nhiều người có thói quen này. Nghiện rượu là một nguyên nhân trầm trọng gây tai nạn giao thông và có thể dẫn tới tử vong. Tai nạn, đặc biệt là tai nạn giao thông, đang xảy ra với chiều hướng gia tăng lý do chủ yếu là không tuân theo các luật lệ giao thông và các quy tắc an toàn lao động. Một vấn đề sức khoẻ khác liên quan nhiều đến hành vi cá nhân là AIDS.
Nạn chích ma tuý gây một nỗi lo ngại cho toàn xã hội nhất là khi đại dịch HIV/AIDS đang hoành hành trên toàn cầu. Các bệnh di truyền và những ảnh hưởng của thời tiết thường không kiểm soát được. Tuy vậy bệnh nhân cũng cần được tham vấn để đương đầu với bệnh tật. Nhiều nguyên nhân của bệnh tật có thể thay đổi.
Nhờ có kháng sinh, nhờ tiêm chủng, các bệnh do vi trùng gây ra đã dần dần bị khống chế. Nhưng con người vẫn tiếp tục đối đầu với các bệnh do chính nếp sống hành vi của họ gây ra: rượu, ma túy, có thai ngoài ý muốn, tai nạn giao thông, bệnh do thực phẩm. Ngay cả các bệnh do vi trùng như STDs, bệnh nhiễm HIV/AIDS,… thì cũng có sự góp phần chủ yếu của hành vi. Hành vi sức khoẻ 2.
Định nghĩa Hành vi là gì? - Hành vi là một phức hợp những hành động của con người xảy ra một cách thường xuyên có ý thức hoặc vô thức mà những hành động này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong cá nhân (gồm nhận thức) và bên ngoài (phong tục tập quán, thói quen, yếu tố di truyền, môi trường, xã hội, văn hoá, kinh tế, chính trị. Ví dụ: hành vi thực hiện các điều lệ về vệ sinh an toàn lao động; hành vi tôn trọng luật pháp). - Nói cách khác, Hành vi là những cách ứng xử hàng ngày đối với một sự việc một hiện tượng một ý kiến hay một quan điểm. Hành vi sức khoẻ là gì? - Hành vi sức khoẻ là những thuộc tính cá nhân như nhận thức, niềm tin, các hành động và thói quen của con người có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến sức khoẻ của người đó và những người xung quanh.
- Định nghĩa khác: Theo Gochman D.S, 1988, Hành vi sức khoẻ là những thuộc tính cá nhân như nhận thức, niềm tin, sự mong muốn, động cơ, giá trị, các đặc 15 điểm nhân cách kể cả trạng thái tình cảm và xúc cảm, các hành động và thói quen có liên quan tới duy trì phục hồi và nâng cao sức khoẻ. Các thành phần của hành vi Mỗi hành vi của một người là sự biểu hiện cụ thể của các yếu tố cấu thành nên nó, đó là các kiến thức, niềm tin, thái độ và cách thực hành của người đó trong một tình huống hay trong một sự việc cụ thể nào đó. Các loại hành vi sức khoẻ Theo ảnh hưởng của hành vi, hành vi sức khoẻ có thể được phân thành 3 loại: - Hành vi có lợi cho sức khoẻ: o Những hành vi lành mạnh được người dân thực hành để phòng chống bệnh tật, tai nạn, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ, hay các hành động mà một người thực hiện để làm cho họ hoặc những người khác khoẻ mạnh và phòng các bệnh tật. Ví dụ: tập thể dục, dinh dưỡng hợp lý, thực hành vệ sinh môi trường, nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ ăn dặm đúng cách, giảm các hành vi tổn hại sức khoẻ như hút thuốc lá, nuôi con bằng sữa chai, uống quá nhiều rượu.