ĐẶT VẤN ĐỀ Từ hơn hai thập kỷ qua, tính từ khi 5 trƣờng hợp bệnh nhân AIDS đầu tiên đƣợc phát hiện tại Los Angeles – Mỹ vào giữa năm 1981 đến nay, HIV/AIDS đã trở thành đại dịch và lan nhanh trên toàn cầu, ƣớc tính trên toàn thế giới có khoảng 34,2 triệu ngƣời đang sống chung với HIV; Bình quân mỗi năm có 2,5 triệu ca nhiễm mới, 1,7 triệu ngƣời tử vong do AIDS. Không có bệnh dịch nào có sức lan toả nhanh nhƣ dịch HIV/AIDS, đe doạ mọi châu lục, mọi quốc gia, mọi cộng đồng. Tất cả các châu lục trên thế giới đều có ngƣời nhiễm, cao nhất là Châu Phi & cận Saraha (22,5 triệu), kế đến là Nam Á & Đông Nam Á (4,1 triệu). Không có một đại dịch nào mà toàn nhân loại phải quan tâm nhƣ đại dịch HIV/AIDS, vì nó không còn chỉ là vấn đề sức khoẻ con ngƣời đơn thuần, mà còn là vấn đề đe doạ nghiêm trọng đến kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc gia, khu vực và là vấn đề phát triển bền vững của toàn cầu [36].
Tại Việt Nam, kể từ trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên phát hiện tháng 12 năm 1990, đến nay dịch HIV đã lan ra tất cả các tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Theo báo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 của Bộ Y tế - Cục phòng phòng chống AIDS, tính đến 31/11/2013 toàn quốc đã phát hiện ngƣời nhiễm HIV tại 78% số xã/phƣờng, 98% số quận/huyện, 100% số tỉnh/thành phố, với tổng số trƣờng hợp hiện nhiễm HIV là 216.254 ngƣời, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 66.533 ngƣời, số tử vong do AIDS là 68. Tác hại của dịch không chỉ riêng đối với nhóm hành vi nguy cơ cao, mà đã lây truyền ra cho nhóm ngƣời dễ tổn thƣơng nhƣ phụ nữ, trẻ em và cả đồng bào dân tộc thiểu số. Từ đó đến nay, toàn quốc đã triển khai các hoạt động phòng chống HIV/AIDS khá toàn diện, Đảng và Nhà nƣớc ta đã đƣa ra các Chiến lƣợc Quốc gia về phòng chống HIV/AIDS theo từng giai đoạn và có mục tiêu cụ thể, nhiều nghiên cứu về HIV/AIDS bao gồm các nghiên cứu về hành vi, nghiên cứu về huyết thanh học… đã đƣợc tiến hành và cung cấp nhiều dữ liệu quan trọng cho việc lập kế hoạch và hoạch định chính sách.
Tuy nhiên, chƣa có nhiều nghiên cứu cho nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là vùng Tây nguyên. Mới chỉ có một ít số liệu về kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS của nhóm dân tộc thiểu số phía bắc, còn ở Tây nguyên rất hiếm hoi [29]. Tỉnh Đắk Lắk thuộc khu vực Tây Nguyên, toàn tỉnh có 47 dân tộc, phong tục tập quán nhiều nơi còn lạc hậu, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS số, trình 2 độ nhận thức về sức khỏe của ngƣời dân còn hạn chế, tính đến 31/12/2013 toàn tỉnh có 1.939 trƣờng hợp nhiễm HIV tích luỹ qua các năm, số bệnh nhân AIDS tích luỹ là 847. Số ca tử vong do AIDS là 402, bình quân tỷ lệ nhiễm 85,38/100.
Tỉnh có 15 đơn vị huyện, thị xã, thành phố; theo thống kê 15 đơn vị đều có ngƣời nhiễm HIV. Huyện Krông Buk có số ngƣời nhiễm HIV xếp thứ 9/15 huyện, thị xã, thành phố. Tính số ngƣời nhiễm/100.000 dân số chung, thì huyện có tỷ lệ ngƣời nhiễm cao của toàn tỉnh. Huyện Krông Buk nằm phía Bắc tỉnh Đắk Lắk, có diện tích tự nhiên là 358,37 km2, dân số 60.940 ngƣời, mật độ dân số 170,04 ngƣời/km².
Gồm 07 xã, 106 thôn, buôn. Toàn huyện có 14 dân tộc anh em, DTTS chiếm 33,57% (20.458 ngƣời), dân tộc Ê đê chiếm đa số 32,14% (19.591), tập trung cao ở 02 xã Cƣ pơng (67,7%), Cƣ Né (62%). Toàn huyện ghi nhận 6/7 xã có ngƣời nhiễm HIV, ca nhiễm đầu tiên phát hiện năm 1999, tổng số tích luỹ HIV đến nay là 50 ngƣời, dân tộc thiểu số chiếm 12% trong tổng số ngƣời nhiễm. Tỷ lệ nhiễm HIV xã Cƣ pơng (24%), Cƣ Né (20%) so với toàn huyện [26], [27].
Trên địa bàn huyện, với sự đa dạng về dân tộc, văn hóa, tôn giáo, phong tục tập quán, có thể ảnh hƣởng gì đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống lây nhiễm HIV của ngƣời dân hay không, đặc biệt là ở độ tuổi thanh niên toàn huyện nói chung, và với thanh niên dân tộc ngƣời Ê đê nói riêng. Thanh niên dân tộc Ê đê ở đây, họ là những ngƣời ít có điều kiện học tập lên cao, việc tiếp cận các thông tin truyền thông về phòng, chống lây nhiễm HIV thấp. Ảnh hƣởng từ trình độ học vấn và ngôn ngữ, họ gặp nhiều khó khăn trong sự hiểu biết hơn so với dân tộc Kinh và các dân tộc khác. Ngoài ra, các phong tục, tập tục dễ dẫn đến nguy cơ lây nhiễm HIV nhƣ quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân, lấy chồng lấy vợ sớm, cho phép sống với nhau trƣớc khi làm lễ cƣới vẫn còn rất phổ biến trong cộng đồng này.
Trong những năm qua, huyện đã đƣợc tỉnh chỉ đạo triển khai các hoạt động Dự án Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn các xã, chủ yếu tập trung vào hoạt động truyền thông, giáo dục là chính. Nhƣng chƣa có nghiên cứu hay điều tra đánh giá về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống lây nhiễm HIV của ngƣời dân và đối tƣợng trong độ tuổi thanh niên, đặc biệt ngƣời dân tộc Ê đê trên địa bàn huyện. Vì vậy, cần có một nghiên cứu nhằm trả lời cho vấn đề đã nêu trên. Với những lý do đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống HIV và một số yếu tố liên quan của thanh niên dân tộc Ê đê tại xã Cư Pơng và Cư Né, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk năm 2014”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống HIV và một số yếu tố liên quan của thanh niên dân tộc Ê đê tại xã Cƣ Pơng và Cƣ Né, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk năm 2014. Mục tiêu cụ thể: 2. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống HIV của thanh niên dân tộc Ê đê tại xã Cƣ Pơng và Cƣ Né, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk năm 2014.
Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống HIV của thanh niên dân tộc Ê đê tại xã Cƣ Pơng và Cƣ Né, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk năm 2014. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng về HIV 1. HIV/AIDS là gì HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thƣờng đƣợc biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thƣ và có thể dẫn đến tử vong [20]. Tháng 6 năm 1981, trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật (CDC) Hoa Kỳ đã xác định những bệnh nhân mắc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải từ 5 nam thanh niên đồng tính luyến ái bị viêm phổi nặng do một ký sinh trùng đơn bào. Tháng 5/1983 Lucmontagnier, Viện Pasteur Paris phát hiện đƣợc virus đặt tên LAV. Tháng 5/1984, Roberto Gallo phân lập đƣợc vi rút tên HTLV type III (Human lympho tropic virus).
Levy phân lập vi rút ARV (AIDS related virus). Barin tìm thấy HIV2 ở Tây Phi.000 trƣờng hợp AIDS đầu tiên đƣợc thông báo ở Mỹ. Tháng 6/1989: Công bố hƣớng dẫn điều trị AIDS đầu tiên của CDC cho những ngƣời bị nhiễm HIV dựa trên cơ sở số lƣợng tế bào lympho CD4 Kể từ đó đến nay đại dịch HIV đã trở thành vấn đề y tế của Toàn cầu, các Châu lục và không Quốc gia nào không bị căn bệnh này đe dọa. Đặc điểm dịch tễ học của HIV/AIDS Nhiễm HIV là nhiễm suốt đời, ngƣời nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất của căn bệnh thế kỷ này.
HIV đã đƣợc phân lập từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nƣớc mắt, sữa mẹ, nƣớc tiểu và các dịch khác trong cơ thể. Các phƣơng thức lây truyền HIV Có 3 phƣơng thức lây truyền chính: Lây truyền theo đƣờng máu, lây truyền theo đƣờng tình dục và lây truyền từ mẹ nhiễm HIV sang con. HIV không lây truyền qua các tiếp xúc thông thƣờng: Ở chung nhà, trong chợ, siêu thị, thở chung không khí, ho, sổ mũi, trong trƣờng học, khi làm việc chung, trong ô tô, chơi thể thao chung, bắt tay, khoát tay, ôm, hôn. Không lây truyền khi dùng chung các vật dụng nhƣ : Nhà vệ sinh, khăn tắm, bát đũa, thìa dĩa, bồn, chậu rửa mặt, bồn tắm, bể 5 bơi, các vật dụng lao động.
Không lây truyền khi bị côn trùng, các con vật cắn : muỗi đốt, chó mèo cắn hoặc các con vật khác tấn công. Các nguy cơ lây nhiễm HIV Lây truyền qua đƣờng tình dục : QHTD không an toàn với ngƣời nhiễm HIV, không sử dụng BCS hoặc sử dụng BCS không đúng cách. Lây truyền qua đƣờng máu : Nhận máu truyền của ngƣời nhiễm HIV. Tiêm chích ma tuý, dùng chung BKT, các vật sắc nhọn xuyên da không đƣợc tiệt trùng đúng cách.
Bị dính máu, dịch của ngƣời nhiễm HIV qua các vết thƣơng hở. Lây truyền từ mẹ sang con: Khi mẹ nhiễm HIV có thể lây truyền cho con qua nhau thai khi mang thai, khi sinh, khi cho con bú. Dịch HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khỏe con ngƣời và tƣơng lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Hiện nay chƣa có vắc xin phòng bệnh, chƣa có thuốc điều trị, chỉ có thuốc kìm hảm sự phát triển vủa vi rút, kéo dài sự sống của bệnh nhân, giúp bệnh nhân hoà nhập với cộng đồng, tiếp tục sống có ích cho xã hội.
Đặc biệt hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV là biện pháp hữu hiệu và là công tác chủ đạo trong chƣơng trình phòng, chống HIV/AIDS [29]. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Kiến thức về phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS: là những nhận thức cơ bản về HIV/AIDS, tác nhân gây bệnh, nguyên nhân và đƣờng lây truyền HIV. Nhận biết về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, nhóm ngƣời có hành vi nguy cơ lây nhiễm cao, nhận biết ngƣời nhiễm HIV.