Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình SXHD trên thế giới Bệnh SXHD lưu hành chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới là ở các Quốc gia đang phát triển, quá trình đô thị hóa đã làm gia tăng khả năng tiếp xúc giữa người với muỗi Ae. Bệnh ảnh hưởng nặng ở các Quốc gia Châu Á là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ em phải chữa trị và tử vong.000 trường hợp mắc bệnh, đặc biệt đã thấy các trường hợp xuất huyết nặng ở người lớn. Đến năm 2007, một vụ dịch lớn đã xảy ra tại Singapore, Campuchia, Malaysia, Philippines và Việt Nam với hơn 133.000 trường hợp lâm sàng được báo cáo và 850 trường hợp tử vong [46].
Số trường hợp mắc/chết SXHD ở khu vực Tây Thái Bình Dương, giai đoạn 1991 – 2011 [47] Đến năm 2011, các nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương đã xảy ra 244.880 trường hợp mắc, trong đó 839 ca tử vong, tỷ lệ chết/mắc là 0,34%. Tại Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Marshall, Singapore và Việt Nam có hơn 1.000 trường hợp mắc vào năm 2011, số trường hợp mắc cao hơn so với năm 2010. Bên cạnh đó, có sự biến đổi lớn giữa các quốc gia trong khu vực về phân phối type huyết thanh.980 trường hợp mắc và 73 trường hợp tử vong với cao điểm dịch vào tháng 7. Riêng Philippine năm 2011 đã có số ca 6 mắc cao nhất trong khu vực với 125.975 trường hợp mắc và 654 ca tử vong, cao điểm dịch xảy ra vào tháng 8 [47].
Số trường hợp mắc và chết ở khu vực Đông Nam Á [38] Theo WHO, mục tiêu của Chiến lược phòng chống SXHD toàn cầu là giảm bùng phát dịch trên thế giới. Đến năm 2020, giảm tỷ lệ mắc xuống thấp nhất dưới 50% và tỷ lệ tử vong dưới 25% (tính từ năm 2010) [47]. Để làm được điều này thì hiệu quả huy động cộng đồng là một chỉ số đánh giá đã được chứng minh từ nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về sự thay đổi hành vi của người dân. Tình hình SXHD ở Việt Nam Gánh nặng bệnh truyền nhiễm luôn là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe cộng đồng ở các nước trên thế giới.
Tại Việt Nam, bệnh SXHD là một bệnh truyền nhiễm đã và đang tái nổi. Tuy con số tử vong do bệnh này là không cao bằng các bệnh truyền nhiễm khác như HIV/AIDS. nhưng số mắc bệnh xảy ra hàng năm là không nhỏ, khoản kinh phí hàng năm phải chi trả cho công tác phòng chống bệnh và dập dịch là rất lớn. Trong năm 2014 tại Việt Nam có 32.049 ca mắc sốt xuất huyết và 20 ca tử vong do sốt xuất huyết là ở 20 tỉnh phía Nam.
Chu kỳ dịch SXHD thường xảy ra theo chu kỳ từ 3 đến 5 năm một lần. Năm 2014, số trường hợp tử vong do SXHD ở khu vực phía Nam chiếm tỷ lệ trên 95% tổng số tử vong của cả nước [31]. Tình hình mắc và chết SXHD ở Việt Nam năm 2014 [31]. Bệnh SXHD ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam, với 78% ca SXHD xuất hiện ở khu vực phía Nam.
Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu cận nhiệt đới, bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xảy ra vì thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của muỗi Aedes aegypti. Bệnh phát triển nhiều hơn từ tháng 6 đến tháng 10 và đỉnh cao vào tháng 7, 8, 9 và 10. Ở miền Nam và Nam Trung bộ bệnh SXHD xuất hiện trong suốt năm với tần số mắc nhiều hơn vào tháng 4 đến tháng 11, đỉnh cao cũng vào các tháng 7, 8, 9 và 10 Biểu đồ 4: Phân bố ca mắc SXHD theo vùng miền [31] 8 1. Tình hình SXHD tại tỉnh Đồng Tháp Tình hình SXHD tại tỉnh Đồng Tháp trong 5 năm qua cũng chưa được khả quan với tỷ lệ mắc trung bình 45,1- 280,9/100.000 dân và tử vong năm 2012 cao nhất là 6 ca.
Tuy năm 2015 có giảm nhưng tỷ lệ tử vong còn khá cao (xem Bảng 1) Bảng 1. Tình trạng mắc và tử vong sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2015 [34] Năm Số mắc Số mắc/100.000 Số tử vong TV/M ( %) 2011 2996 165,4 01 0,03 2012 5008 280,9 06 0,11 2013 1225 67,9 01 0,08 2014 823 45,1 0 0 2015 3049 166,1 03 0,098 1. Tình hình SXHD tại huyện Cao Lãnh Huyện Cao Lãnh Là một trong những huyện có số mắc SXHD cao trong toàn tỉnh năm 2012 và 2015 đứng thứ hai/12 huyện thị, tỷ lệ mắc trung bình từ 35,8- 207,1/100.000 dân, riêng tỷ lệ tử vong 0,26 năm 2012 (xem Bảng 2). Tình hình mắc và tử vong SXHD tại huyện Cao Lãnh giai đoạn 2011- 2015 [13] Năm Số mắc Số mắc/100.000 Số tử vong TV/M ( %) 2011 281 134,6 0 0 2012 379 178,4 01 0,26 2013 88 40,4 0 0 2014 79 35,8 0 0 2015 457 207,1 0 0 9 1.
Giới thiệu đặc điểm chung và tình hình SXHD tại địa bàn nghiên cứu 1. Tình hình SXHD tại xã Mỹ Long Xã Mỹ Long là một xã vùng ven nằm dọc theo Quốc lộ 30 và một phần nằm trong vùng sâu của huyện Cao Lãnh. Xã hội tụ đủ những đặc điểm về dân sinh, môi trường và sinh thái của toàn huyện, với diện tích tự nhiên 2.113 ha, dân số 11. Xã chia làm 4 ấp, có vị trí địa lý: phía Đông giáp xã Mỹ Hiệp, phía tây giáp xã Bình Hàng Tây, phía Nam giáp Sông Cái Nhỏ xã Bình Thạnh, phía Bắc giáp xã Tân Hội Trung.
Tất cả các đoạn đường liên ấp trong xã đã được pê tông hóa. Nghề nghiệp 85% sống bằng nghề nông nghiệp, 5% thương mại dịch vụ, 10% tiểu thủ công nghiệp. Trạm y tế có 1 bác sĩ, 3 y sĩ, 1 dược trung học, 1 điều dưỡng, 1 kế toán cùng 13 cộng tác viên sức khỏe cộng đồng, cùng với 17 thành viên Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân xã. Đa số người dân sống cập theo tuyến lộ và khu dân cư việc sử dụng rác thải và phế liệu, DCCN chưa được thu gom xử lý tốt và xung quanh trong nhà chưa gọn, ngăn nắp tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi Aedes agypti đẻ trứng phát triển nhanh.
Tỷ lệ mắc trung bình 5 năm gần đây từ 12,6 – 26,9/10.000 dân cao hơn so với chỉ tiêu mắc trung bình 5 năm của xã 7,5-9,2/10.000 dân và không có tỷ lệ tử vong (xem Bảng 3). Tình hình mắc và tử vong SXHD tại xã Mỹ Long năm 2011- 2015 [15] Năm Số mắc Số mắc/10.000 Số tử vong TV/M ( %) 2011 25 22,4 0 0 2012 30 26,9 0 0 2013 15 13,4 0 0 2014 14 12,6 0 0 2015 16 13,1 0 0 10 1. Tình hình SXHD tại xã An Bình Xã An Bình là một xã vùng ven nằm dọc theo Quốc lộ 30 và một phần nằm trong vùng sâu của huyện Cao Lãnh. Xã hội đủ những đặc điểm về dân sinh, môi trường và sinh thái của toàn huyện, với diện tích tự nhiên 820 ha, dân số 9.
Xã chia làm 3 ấp, và phía Đông giáp xã Thị Trấn Mỹ Thọ, phía tây giáp Thành phố Cao Lãnh, phía Nam giáp Sông Tiền, phía Bắc giáp xã Nhị Mỹ. Tất cả các đoạn đường liên ấp, liên xã đã được lát đang, nghề nghiệp 85% sống bằng nghề nông nghiệp, 7% thương mại dịch vụ và 8% tiểu thủ công nghiệp. Trạm y tế có 1 bác sĩ, 2 y sĩ, 2 dược trung học, 1 diều dưỡng, 2 nữ hộ sinh cùng 13 cộng tác viên sức khỏe cộng đồng. Đa số người dân sống cập theo tuyến lộ và khu dân cư việc sử dụng rác thải và phế liệu, dụng cụ chứa nước chưa được thu gom xử lý tốt và xung quanh trong nhà chưa gọn, ngăn nắp tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi Aedes agypti đẻ trứng phát triển nhanh.
Tỷ lệ mắc có chiều hướng tăng nhanh từ 3 ca bệnh SXHD năm 2014 tăng lên 14 ca năm 2015 [1]. Tình hình mắc và tử vong SXHD tại xã An Bình năm 2010- 2015 Năm Số mắc Số mắc/10. Khái niệm chung về SXHD 1. Đặc điểm của bệnh SXHD Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây nên.
Vi rút Dengue có 4 týp thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Vi rút truyền từ người 11 bệnh sang người lành do muỗi đốt. Muỗi Aedes aegypti là trung gian truyền bệnh chủ yếu. Bệnh xảy ra quanh năm, thường gia tăng vào mùa mưa, bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn.
Đặc điểm của SXHD là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong. Bệnh SXHD có biểu hiện lâm sàng đa dạng, diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua ba giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục. Phát hiện sớm bệnh và hiểu rõ những vấn đề lâm sàng trong từng giai đoạn của bệnh giúp chẩn đoán sớm, điều trị đúng và kịp thời, nhằm cứu sống người bệnh.
Ca bệnh bệnh nhân sốt đăng gơ (SD) có biểu hiện sốt cao đột ngột, sốt cao trên 38,50C, kéo dài 2 - 7 ngày, đi cùng với các triệu chứng đau đầu, đau hốc mắt, đau cơ, đau khớp, phát ban, có biểu hiện xuất huyết (dấu hiệu dây thắt dương tính) và giảm bạch cầu. Bệnh nhân SXHD có bệnh cảnh của sốt đăng gơ, có thể thêm một số triệu chứng: ban xuất huyết, đốm xuất huyết, chảy máu (chân răng, mũi, đường tiêu hóa, tại nơi tiêm, kinh nguyệt kéo dài.), giảm tiểu cầu (dưới 100. Véc tơ truyền bệnh Muỗi trưởng thành thường đẻ trứng ở bất kỳ dụng cụ chứa nước nào có thể tích trữ nước đến 7 ngày đều có thể là nơi sinh sản của muỗi truyền bệnh SXHD. Những dụng cụ chứa nước (DCCN) là nơi muỗi Aedes đẻ trừng gồm chum vại, bể, chai lọ, vỏ dừa, lốp ô tô cũ, phuy chứa nước, dụng cụ chứa nước bằng nhựa, bát kê chân tủ đựng thức ăn trong bếp, bể chứa nước trong nhà tắm, bể chứa nước không có nắp đậy, giếng nước cạn, khay nước của tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, lọ hoa ở trong nhà, dụng cụ chứa nước quanh nhà những nơi râm mát.
Nguồn là ổ chứa và là nguồn truyền nhiễm chủ yếu của bệnh SXHD trong chu trình "người-muỗi Aedes aegypti" ở khu vực thành thị và nông thôn. Ngoài bệnh nhân, người mang vi rút Dengue không triệu chứng cũng có vai trò truyền bệnh quan trọng.