ĐẶT VẤN ĐỀ Cận thị là một loại tật khúc xạ của mắt, trong đó các tia sáng song song đi vào mắt được hội tụ ở trước võng mạc khi mắt ở trạng thái nghỉ không điều tiết. Tật khúc xạ là một trong những nguyên nhân chính gây giảm thị lực. Cận thị hiện đang là mối quan tâm đặc biệt vì những tác động của nó tới sức khỏe cộng đồng, nếu không được kiểm soát, cận thị có thể gây ra những bệnh lý nghiêm trọng về mắt như: nhược thị, bong rách võng mạc, lác, thoái hóa võng mạc cận thị, thoái hóa hoàng điểm cận thị, Glocom. có thể dẫn tới mất thị lực hoàn toàn.
Đặc biệt, theo báo cáo “World report on vision” của Tổ chức Y tế thế giới năm 2019, mặc dù chỉ chiếm 51% dẫn số toàn thế giới nhưng 3 khu vực của châu Á (bao gồm: Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á) đã chiếm tới 61% trong tổng số 216,6 triệu người bị tật khúc xạ ở mức độ trung bình và nặng (123,7 triệu người bị cận thị). Đáng lo ngại hơn, ở Đông và Đông Nam Á (bao gồm Việt Nam), tỷ lệ lưu hành lên tới khoảng 80–90% ở người trẻ tuổi ở các nước phát triển, chẳng hạn như Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Độ tuổi cận thị ngày càng trẻ hóa, dẫn đến nhiều bệnh tật và tạo gánh nặng tài chính cho các quốc gia, với thiệt hại hơn 200 tỷ USD năng suất lao động toàn cầu mỗi năm [72]. Nếu không được điều trị, cận thị sẽ tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống và góp phần làm giảm kết quả học tập của học sinh, sinh viên.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tương tác phức tạp của các yếu tố di truyền, môi trường và hành vi dẫn đến sự khởi phát và tiến triển của cận thị [60]. Việc tăng thời gian sử dụng thiết bị điện tử, khoảng cách sử dụng màn hình quá gần và giảm thời gian cho các hoạt động ngoài trời được cho có liên quan đến sự phát triển cận thị [51]. Yếu tố môi trường, yếu tố dinh dưỡng cũng là nguyên nhân khiến tỷ lệ bệnh cận thị tăng cao [41]. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm tuổi tác, giới tính, tiền sử cận thị của cha mẹ, căng thẳng tâm lý xã hội.Trong khi đó, sự xuất hiện của đại dịch COVID 19 từ năm 2021 cũng đã được nhiều nghiên cứu chứng minh là có mối liên hệ tới sự gia tăng của cận thị.
Mặc dù đại dịch không ảnh hưởng trực tiếp đến cận thị, nhưng việc cách ly tại nhà và học trực tuyến có 2 liên quan đã ảnh hưởng đáng kể đến sự tiến triển của cận thị. Cận thị phát triển trong quá trình cách ly tại nhà vì COVID-19 đôi khi được gọi là 'Cận thị cách ly' với tỷ lệ mắc và mức độ mắc ngày càng gia tăng [29]. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ cận thị cao và có xu hướng tăng nhanh. Đặc biệt là cận thị ngày càng xuất hiện nhiều, trẻ hóa và tiến triển trong các lứa tuổi học sinh.
Theo số liệu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho thấy tỷ lệ học sinh bị cận thị là 26,14% và gia tăng theo cấp học. Theo nghiên cứu của Hoàng Lưu Vinh và cộng sự tại 5 thành phố lớn trên phạm vi toàn quốc [27] với cấp trung học phổ thông, số học sinh lớp 10 bị cận thị chiếm 12,2%, lớp 11 chiếm 25,5%, và tăng mạnh ở lớp 12 chiếm 62,3%. Khảo sát tại các trường trung học phổ thông tại thành phố Bắc Giang cho thấy tỉ lệ cận thị là 53%[7]. Trường trung học phổ thông Nguyễn Quốc Trinh huyện Thanh Trì, Hà Nội được thành lập từ năm 2019, năm học 2019 - 2020 trường tuyển sinh 10 lớp 10 với 451 học sinh.
Năm học 2023-2024, trường đã đạt tổng số học sinh là 1.705 học sinh với 40 lớp. Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu, khảo sát về cận thị cho học sinh tại trường trung học phổ thông Nguyễn Quốc Trinh. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng cận thị và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông Nguyễn Quốc Trinh, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2024” để trả lời câu hỏi thực trạng cận thị của học sinh trường trung học phổ thông Nguyễn Quốc Trinh ở Hà Nội như thế nào ? có những yếu tố nào liên quan ? để từ những kết quả nghiên cứu có thể đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc, bảo vệ sức khỏe học sinh của trường Nguyễn Quốc Trinh và huyện Thanh Trì, đồng thời góp phần vào việc nâng cao chất lượng môi trường giáo dục của nhà trường. Đề tài có 2 mục tiêu: 1.
Mô tả thực trạng cận thị ở học sinh trường trung học phổ thông Nguyễn Quốc Trinh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội năm 2024. Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng cận thị của đối tượng nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cận thị 1.1 Khái niệm Cận thị là một tật khúc xạ ở mắt gây rối loạn chức năng thị giác. Ở người bình thường, các tia sáng khi đi vào mắt sẽ được hội tụ tại một điểm trên võng mạc giúp tạo thành hình ảnh rõ ràng, sắc nét.
Tuy nhiên, ở người cận thị, các tia sáng lại hội tụ phía trước võng mạc, điều này khiến những ai bị cận khi nhìn các vật ở gần sẽ thấy rõ, trong khi vật càng xa thì càng thấy mờ. Điều này làm cho vật thể ở xa bị mờ và đối tượng ở gần xuất hiện bình thường [9]. Người mắc cận thị có khuynh hướng khép mắt lại một chút khi nhìn vật ở xa, vì vậy cận thị được hiểu là “tầm nhìn gần”.2 Phân loại cận thị Cận thị được phân loại dựa trên mức độ, đặc điểm giải phẫu, di truyền, tuổi khởi phát, tốc độ tiến triển, sự hiện diện bệnh lý và lý thuyết về sự phát triển cận thị. Cận thị có thể được phân loại theo tốc độ tiến triển là cố định, tiến triển tạm thời và tiến triển vĩnh viễn.
Cận thị cố định thường ở mức độ thấp và không tiến triển. Cận thị tạm thời có thể tiến triển đến cuối tuổi 20, sau đó tốc độ tiến triển trở thành 0. Tùy theo mức độ, cận thị được phân loại là cận thị thấp (<3,00 diop - D), cận thị trung bình (3,00 D-5,00 D) và cận thị nặng (>5,00 D) [34]. Cận thị cũng có thể được chia theo tuổi thành bốn loại: cận thị bẩm sinh (xuất hiện khi mới sinh), cận thị khởi phát ở tuổi thanh thiếu niên (khởi phát từ 6 tuổi đến tuổi thiếu niên), cận thị khởi phát sớm ở người trưởng thành (khởi phát từ 20 đến 40 tuổi) và cận thị khởi phát muộn ở tuổi trưởng thành (khởi phát sau 40 tuổi) [34].
Phân loại theo tiến trình phát triển và biến hóa của bệnh lý: 4 a) Cận thị đơn thuần (simple myopia) Do hệ thống chiết quang và võng mạc nhìn phối hợp với nhau không bình thường. Trục nhãn cầu: sau khi sinh, trục dài của nhãn cầu là 18mm đến trước 3 tuổi phát triển thành 23mm, trước 15 tuổi dài 24mm; thời kỳ thanh thiếu niên phát triển chậm, sau 20 tuổi căn bản ổn định. Hơn một nửa số người cận thị có độ chiết quang dưới -6,0 D, loại này gọi là mắt cận thị đơn thuần. Sức nhìn xa của loại mắt này giảm sút một cách rõ rệt, nhưng sức nhìn gần lại bình thường, các tổ chức khác của mắt cũng bình thường.
Nếu dùng mắt kính thích hợp có thể điều chỉnh được thị lực trở lại mức bình thường. Đây là loại cận thị phổ biến nhất, bệnh thường gặp ở trẻ em trong độ tuổi đi học từ 10 đến 18 tuổi. Người bị cận đơn thuần có độ cận dưới 6D và thường đi kèm với loạn thị [9]. b) Cận thị bệnh lý Cận thị bệnh lý (cận thị ác tính hoặc cận thị thoái hóa) được xác định bởi sự hiện diện của hệ thống quang học trong mắt của một yếu tố nằm ngoài giới hạn biến đổi sinh học bình thường.
Cận thị nặng kèm theo thoái hóa điểm vàng, thần kinh thị giác và võng mạc ngoại biên là cận thị bệnh lý. Mắt bị cận thị bệnh lý có nguy cơ cao nhất phát triển các tình trạng đe dọa thị lực như bong võng mạc, thoái hóa điểm vàng cận thị, và đục thủy tinh thể [26].3 Các phương pháp kiểm soát cận thị Cận thị bệnh lý tăng lên đáng kể ở những người cận thị nặng, việc kiểm soát tiến triển cận thị đã trở thành mục tiêu lâm sàng quan trọng. Nhiều phương pháp đã được nghiên cứu và áp dụng để kiểm soát cận thị. Các phương thức hiện tại để làm chậm/ngăn chặn sự tiến triển cận thị bao gồm thấu kính công suất tăng dần, thấu kính làm mờ ngoại vi, kính áp tròng, kính chỉnh hình giác mạc Orthokeratology (Ortho-K), kính tiếp xúc mềm đa tiêu cự, hoạt động ngoài trời, và dược phẩm.
Can thiệp bằng dược phẩm để kiểm soát cận thị bao gồm một số loại thuốc nhưng việc sử dụng atropine hàng ngày đã mang lại thành công trong việc điều trị cận thị tiến triển. Mỗi chiến lược kiểm soát cận thị được mô tả dưới đây.1 Can thiệp quang học + Kính hai tròng và kính đa tiêu cự: Trong thập kỷ qua, một số nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của kính hai tròng, đa tiêu cự đối với sự tiến triển của cận thị. Việc sử dụng các tròng kính này được coi là có tác dụng ngăn chặn sự tiến triển của cận thị bằng cách giảm nỗ lực điều chỉnh và độ trễ khi ở gần. Thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng với kính hai tròng tiến triển trong thời gian nghiên cứu 2,5 năm đã chậm lại 20%.
+ Thấu kính làm mờ ngoại biên: Thấu kính làm mờ ngoại vi được thiết kế dựa trên giả thuyết rằng việc giảm viễn thị ngoại vi tương đối sẽ ảnh hưởng đến tiến triển cận thị. Tính năng làm mờ ngoại vi có sẵn ở cả kính đeo mắt và kính áp tròng, và đã được thử nghiệm với những kết quả đáng khích lệ như phương pháp điều trị kiểm soát cận thị. Kính đeo mắt được thiết kế để giảm viễn thị ngoại vi làm giảm tốc độ tiến triển cận thị ở trẻ bị cận thị của cha mẹ. Kính áp tròng điều chỉnh làm mờ ngoại vi có hiệu quả hơn các thiết kế kính đeo mắt đã được thử nghiệm trong việc kiểm soát tiến triển cận thị ở trẻ em.