Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 1. Bệnh sốt xuất huyết Dengue. Đặc điểm dịch tể học Bệnh SXHD lưu hành ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi sinh sống của các loài Aedes.
Ở Châu Á, bệnh lưu hành ở hầu hết các quốc gia trong khu vực. Bệnh gặp cả ở vùng thành thị, nông thôn và cả miền núi, tuy nhiên tập trung cao nhất ở các khu vực có mật độ dân cư đông, tình trạng đô thị hóa cao. Việt Nam được coi là vùng dịch lưu hành địa phương, chủ yếu ở các tỉnh Miền Nam và Nam Trung bộ. Tỷ lệ hàng năm trong vòng 10 năm gần đây dao động từ 40 tới 310 trường hợp trên 100.000 dân, trong khu vực miền Nam thường xuyên chiếm 70% các ca mắc mới.
Tỷ lệ tử vong lớn hơn 1/100.000 dân, tuy nhiên trong những năm gần đây Việt Nam thường duy trì ở mức thấp hoặc rất thấp, từ 0,1 tới 0,01/ 100. Tác nhân gây bệnh Bệnh do vi rút dengue gây ra thuộc giống Flaviviruses, họ Flaviviridae; gồm 4 týp huyết thanh có ký hiệu D1, D2, D3, D4. Cả 4 týp huyết thanh đều có thể gặp ở Việt Nam và luân phiên gây dịch.Vi rút dengue có thể tồn tại, phát triển lâu dài trong cơ thể muỗi Aedes aegypti, tuy nhiên dễ dàng bị diệt khi ra môi trường bên ngoài. Người là ổ chứa và là nguồn truyền nhiễm chủ yếu của bệnh sốt xuất huyết trong chu trình “Người - muỗi Aedes aegypti”.
Ngoài bệnh nhân, người mang vi rút dengue không triệu chứng cũng có vai trò truyền bệnh quan trọng. Trong ổ dịch sốt xuất huyết cứ 1 trường hợp bệnh diển hình có hàng chục trường hợp mang vi rút tiềm ẩn, không có triệu chứng [6]. Thời kỳ ủ bệnh và lậy truyền Thời kỳ ủ bệnh từ 3 – 5 ngày, thông thường từ 5 – 7 ngày. Bệnh nhân là nguồn lây truyền ngay sau khi xuất hiện cơn sốt cho tới khi hết sốt, trung bình khoảng 6 – 7 ngày.
Người mang vi rút không triệu chứng thường có thời kỳ lây truyền ngắn hơn. Muỗi Aedes aegypti nhiễm vi rút từ 6 – 12 ngày sau khi hút máu và có khả năng truyền bệnh suốt đời [6],[5]. Tính cảm nhiễm và miễn dịch Mọi chủng tộc, giới tính, lứa tuổi đều có thể nhiễm vi rút và mắc bệnh sốt xuất huyết nếu chưa có miễn dịch. Tỷ lệ mắc bệnh của trẻ em dưới 15 tuổi thường cao hơn, người từng nhiễm vi rút dengue hoặc đã mắc bệnh thường có miễn dịch lâu dài với vi rút cùng týp huyết thanh.
Tuy nhiên, nếu nhiễm lại một týp vi rút dengue khác với týp đã từng nhiễm thường xuất hiện bệnh cảnh nặng hơn do cơ chế hình thành các phức hợp miễn dịch trong máu [1, 6]. Giám sát véc tơ Giám sát véc tơ nhằm xác định nguồn sinh sản chủ yếu của muỗi truyền bệnh, sự biến động của véc tơ, tính nhạy cảm của véc tơ với hóa chất diệt côn trùng và đánh giá hoạt động phòng chống véc tơ tại cộng đồng [35]. Giám sát muỗi trưởng thành Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghĩ trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút tay trong thời gian 15 phút. Số nhà điều tra cho mỗi điểm là 30 nhà, điều tra 1 tháng/ 1 lần.
Những chỉ số sử dụng để theo dõi muỗi Ae. Aegypti và Ae. Albopictus + Chỉ sồ mật độ muỗi (CSMĐ): là số muỗi cái trung bình trong một gia đình điều tra. Số muỗi cái bắt được CSMĐ (con/nhà) = Số nhà điều tra + Chỉ số nhà có muỗi (CSNCM) là tỷ lệ % nhà có muỗi cái trưởng thành.
6 Số nhà có muỗi cái CSNCM (%) = x 100 Số nhà điều tra 1. Giám sát bọ gậy Giám sát bọ gậy 1 tháng/ 1 lần, sau khi bắt muỗi tiến hành điều tra bọ gậy bằng quan sát, ghi nhận ở toàn bộ dụng cụ chứa nước trong và quanh nhà. Có 4 chỉ số được sử dụng để theo dõi bọ gậy của muỗi Ae. Aegypti và Ae.
Albopictus + Chỉ số nhà có bọ gậy (CSNCBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes Số nhà có bọ gậy Aedes CSNCBG (%) = x 100 Số nhà điều tra + Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CSDCBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes Số DCCN có bọ gậy Aedes CSDCBG (%) = x 100 Số nhà điều tra + Chỉ số Breteau (BI) là số dụng cụ chứa nước có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra. Tối thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI được tính như sau: Số DCCN có bọ gậy Aedes BI = x 100 Số nhà điều tra + Chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG) là số bọ gậy trung bình cho một nhà điều tra. Chỉ số CSMĐBG chỉ sử dụng khi điều tra ổ bọ gậy nguồn: Số bọ gậy Aedes thu được CSDMĐBG = Số nhà điều tra 7 Trong quá trình điều tra giám sát véc tơ (muỗi, bọ gậy), nếu chỉ số mật độ muỗi cao (> 1 con/ nhà) hoặc chỉ số Breteau (BI) > 50 là yếu tố nguy cơ cao. Thời tiết, khí hậu Thời tiết mô tả các điều kiện khí quyển trên một khoảng thời gian ngắn như là từ ngày này sang ngày hay tuần này sang tuần khác, trong khi khí hậu mô tả điều kiện trung bình trong một khoảng thời gian dài.
Nó thể hiện nhiều khía cạnh của thời tiết. Độ ẩm, nhiệt độ không khí và áp lực, tốc độ và hướng gió, mây che phủ và định dạng, và số lượng và hình thức của lượng mưa là tất cả những đặc điểm của khí quyển trong các điều kiện thời chúng ta gọi là thời tiết. Khí hậu là định nghĩa phổ biến về thời tiết trung bình trong khoảng thời gian dài. Thời gian trung bình chuẩn để xét là 30 năm, nhưng có thể khác tùy theo mục đích sử dụng.
Khí hậu cũng bao gồm các số liệu thống kê theo ngày hoặc năm khác nhau. Từ điển thuật ngữ của Nhóm hội thảo đa quốc gia về biến đổi khí hậu (The Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) định nghĩa như sau: Khí hậu trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là "Thời tiết trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm. Khoảng thời gian truyền thống là 30 năm, theo như định nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological Organization - WMO). Các số liệu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa và gió.
Khí hậu trong nghĩa rộng hơn là một trạng thái, gồm thống kê mô tả của hệ thống khí hậu. Sự khác nhau giữa Khí hậu và Thời tiết thường được tóm tắt qua thành ngữ "khí hậu là những gì bạn mong đợi, thời tiết là những gì bạn nhận được" [48]. Tình hình sốt xuất huyết dengue 2. Tình hình sốt xuất huyết dengue trên thế giới Dịch SXHD được biết đến cách đây ba thế kỷ ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới.
Trong thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20 đã xảy ra những vụ dịch của các bệnh tương tự như SXHD ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới và một số vùng có khí hậu ôn đới. Vụ dịch đầu tiên được khẳng định là SXHD được ghi nhận 8 tại Philippin vào năm 1953-1954. Số mắc SXHD trên thế giới có xu hướng ngày càng gia tăng, cứ sau mỗi thập kỷ, số mắc tăng gấp 2 lần. Giai đoạn 1955-1959 số mắc trung bình hàng năm chỉ là 908 trường hợp, cho đến những năm 1980-1989 con số này đã tăng lên 295.591 và tăng lên 968.564 trường hợp trong giai đoạn 2000-2007[22].
Phân bố Sốt xuất huyết Dengue trên Thế giới. Nguồn CDC 2005 Chỉ tính riêng năm 1998, có tổng số 1,3 triệu ca mắc SXHD và trên 3600 trường hợp tử vong được báo cáo cho Tổ chức Y tế Thế giới. Nhìn chung trong suốt 50 năm qua SXHD đã tăng trên 30 lần và lan nhanh và trở thành dịch trên 100 nước trên thế giới, các khu vực lưu hành nặng như Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương, Đông Địa Trung Hải. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế Giới hiện nay có khoảng 50-100 triệu ca SXHD trên toàn thế giới mỗi năm [31].
Kể từ khi được phát hiện vào những năm 50 của thế kỷ trước, sốt xuất huyết liên tục lan rộng ra các quốc gia, hiện sốt xuất huyết đang lưu hành ở trên 128 quốc 9 gia thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới như vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ, châu Phi. Ước tính có khoảng 390 triệu trường hợp mắc mỗi năm, số người mắc đã tăng tới 30 lần trong 50 năm qua.Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết không ổn định phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời tiết khí hậu, lượng mưa trong năm. Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới ngày 08/9/2015, năm 2015, sốt xuất huyết có biểu hiện gia tăng ở rất nhiều quốc gia, đặc biệt tại khu vực châu Á Thái Bình Dương [12]. Các mối đe dọa của một vụ dịch SXHD có thể hiện đang tồn tại ở châu Âu và sự lan truyền SXHD tại chỗ đã được báo cáo lần đầu tiên tại Pháp và Croatia trong năm 2010 và các ca SXHD ngoại lai đã được phát hiện ở ba nước châu Âu khác.
Trong năm 2012, một đợt bùng phát bệnh SXHD trên đảo Madeira của Bồ Đào Nha dẫn đến hơn 2000 ca và các ca ngoại lai đã được phát hiện tại 10 quốc gia khác ở châu Âu ngoại trừ lục địa Bồ Đào Nha [31]. Trong năm 2013, các ca SXHD đã xảy ra ở Florida (Hoa Kỳ) và tỉnh Vân Nam,Trung Quốc, SXHD cũng tiếp tục ảnh hưởng đến một số nước Nam Mỹ đặc biệt là Honduras, Costa Rica và Mexico. Ở châu Á, Singapore đã báo cáo có sự gia tăng số ca mắc SXHD sau một thời gian biến mất và sự bùng phát này cũng đã được báo cáo tại Lào. Trong năm 2014, xu hướng này chỉ tăng về số lượng các trường hợp trong quần đảo Cook, Malaysia, Fiji và Vanuatu với SXHD týp 3 (DEN 3) ảnh hưởng đến các quốc đảo Thái Bình Dương sau khi không xuất hiện hơn 10 năm [31].
Năm 2013, Australia, Lào, Malaysia, Singapore và New Caledonia ghi nhận số mắc tăng so với cùng kỳ 2012. Diễn biến dịch trong thời gian gần đây tại Malaysia và Việt Nam có chiều hướng tăng, trong khi diễn biến giảm tiếp tục ghi nhận tại Australia, Campuchia, Lào, Singapore và giảm mạnh tại New Caledonia. Khu vực đảo Polynesia thuộc Pháp tiếp tục ghi nhận hoạt động của vi rút Dengue [20].