ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đƣờng là bệnh mang tính xã hội cao ở nhiều quốc gia bởi tốc độ phát triển nhanh chóng, mức độ nguy hại đến sức khoẻ. Đái tháo đƣờng còn trở thành lực cản của sự phát triển, gánh nặng của gia đình và cho toàn xã hội. Theo Liên đoàn Đái tháo đƣờng Thế giới (IDF), năm 2015 toàn thế giới có 415 triệu ngƣời (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ), tƣơng đƣơng cứ 11 ngƣời có 1 ngƣời bị ĐTĐ, đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu, tƣơng đƣơng cứ 10 ngƣời có 1 ngƣời bị ĐTĐ. Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng thực phẩm không thích hợp, ít hoặc không hoạt động thể lực ở trẻ em, bệnh ĐTĐ típ 2 đang có xu hƣớng tăng ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng.
Bệnh ĐTĐ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận và cắt cụt chi. Nhƣng một điều đáng khả quan, có tới 70% trƣờng hợp ĐTĐ typ 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng tuân thủ lối sống lành mạnh, dinh dƣỡng hợp lý và tăng cƣờng luyện tập thể lực [1]. Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trƣớc, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở thành phố Hà nội), 2,25% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (thành phố Huế), nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết trung ƣơng cho thấy: tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở ngƣời trƣởng thành là 5.42%, tỷ lệ đái tháo đƣờng chƣa đƣợc chẩn đoán trong cộng đồng là 63. Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose toàn quốc 7,3%, rối loạn glucose máu lúc đói toàn quốc 1,9% (năm 2003).
Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6%. Đái tháo đƣờng đang là vấn đề thời sự cấp bách của sức khoẻ cộng đồng. Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về đái tháo đƣờng đã đƣợc tiến hành trên phạm vi cả nƣớc , tại Thủ đô Hà Nội mức sống của ngƣời dân tƣơng đối cao và đặc biệt là có nhiều ngƣời dân từ các tỉnh thành khắp đất nƣớc về thủ đô sống và làm 2 việc nên tỉ lệ bệnh tật cũng có sự khác nhau trong đó tỷ lệ Ngƣời bệnh đái tháo đƣờng tại các cơ sở khám chữa bệnh đang ngày một gia tăng. Tại khoa khám bệnh bệnh - Bệnh viện Hữu Nghị cho thấy số Ngƣời bệnh mắc tiểu đƣờng cũng gia tăng hàng năm.
Khoa khám bệnh ngoại trú điều trị bệnh mãn tính đƣợc thành lập từ năm 2012 và theo thống kê hàng năm cho thấy năm 2017 thì số ngƣời bệnh khám bệnh là; 19.537 Ngƣời bệnh, năm 2018 tăng lên 20.645 Ngƣời bệnh, hiện tại năm 2019 tính đến 31/10 là;18.100 ngƣời bệnh [2]. Biện pháp hữu hiệu để làm giảm tiến triển và biến chứng của bệnh và giảm chi phí khám chữa bệnh là phải phát hiện sớm và điều trị ngƣời bệnh kịp thời. Tuy nhiên, công tác phát hiện sớm, chăm sóc và điều trị bệnh đái tháo đƣờng tại các bệnh viện nói chung và tại Bệnh viện Hữu Nghị nói riêng còn gặp không ít những khó khăn. Ngƣời bệnh đa số là khi nghỉ hƣu rồi mới quan tâm nhiều tới sức khỏe của bản thân, tuổi cao bản thân mắc nhiều bệnh kèm theo, trình độ học vấn của ngƣời bệnh cao nên trong quá trình điều trị ngƣời bệnh còn tham khảo do dự về việc khám chữa bệnh của bản thân với y tế giữa các bệnh viện trên địa bàn thủ đô, chăm sóc sức khỏe ban đầu rất là quan trong, tuy nhiên nhiều ngƣời bệnh vẫn chủ quan chỉ khi có dấu hiệu về bệnh hoặc bị bệnh mới đi khám chữa bệnh mà việc tuân thủ chăm sóc và điều trị tại nhà còn hạn chế.
Trong khi mục đích điều trị bệnh đái tháo đƣờng là ngƣời bệnh tự kiểm soát lƣợng đƣờng trong máu, trọng lƣợng cơ thể, huyết áp, mỡ máu và duy trì chất lƣợng cuộc sống nhƣ những ngƣời khỏe mạnh. Do đó, ngƣời bệnh và gia đình ngƣời bệnh mất rất nhiều thời gian và công sức, cần có kiến thức, kỹ năng thực hành chăm sóc tại nhà để phối hợp trong công tác chăm sóc và điều trị bệnh. Nhiều ngƣời bệnh cho rằng những ngày sống với bệnh đái tháo đƣờng là một gánh nặng và luôn có cảm giác nặng nề không lý giải đƣợc, đôi khi còn có cảm giác thất bại. Để góp phần tìm hiểu vấn đề này, và đƣa ra giải pháp khắc phục tôi tiến hành chuyên đề “Thực trạng kiến thức và tự chăm sóc của ngƣời bệnh đái tháo đƣờng typ II điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Hữu Nghị năm 2019” 3 Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề: 1.
Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường typ II điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Hữu Nghị năm 2019. Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường typ II điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Hữu Nghị. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Đại cƣơng Bệnh đái tháo đƣờng là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai.
Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thƣơng ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [1]. Chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đƣờng 1. Chẩn đoán: Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đƣờng (theo Hiệp Hội Đái tháo đƣờng Mỹ - ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây: a) Glucose huyết tƣơng lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Ngƣời bệnh phải nhịn ăn (không uống nƣớc ngọt, có thể uống nƣớc lọc, nƣớc đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thƣờng phải nhịn đói qua đêm từ 8 - 14 giờ), hoặc: b) Glucose huyết tƣơng ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đƣờng uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).
Nghiệm pháp dung nạp glucose đƣờng uống phải đƣợc thực hiện theo hƣớng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Ngƣời bệnh nhịn đói từ nửa đêm trƣớc khi làm nghiệm pháp, dùng một lƣợng glucose tƣơng đƣơng với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nƣớc, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trƣớc đó ngƣời bệnh ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày. Xét nghiệm này phải đƣợc thực hiện ở phòng thí nghiệm đƣợc chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) Ở ngƣời bệnh có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức 5 glucose huyết tƣơng ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán a, b, c, d ở trên cần đƣợc thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán.
Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày. Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phƣơng pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đƣờng là định lƣợng glucose huyết tƣơng lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Nếu HbA1c đƣợc đo tại phòng xét nghiệm đƣợc chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ [1]. Chẩn đoán tiền đái tháo đường Chẩn đoán tiền đái tháo đƣờng khi có một trong các rối loạn sau đây: - Rối loạn glucose huyết đói (impaired fasting glucose: IFG): Glucose huyết tƣơng lúc đói từ 100 (5,6mmol/L) đến 125 mg/dL (6,9 mmol/L), hoặc - Rối loạn dung nạp glucose (impaired glucose tolerance: IGT): Glucose huyết tƣơng ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đƣờng uống 75 g từ 140 (7.8 mmol/L) đến 199 mg/dL (11 mmol/L),hoặc - HbA1c từ 5,7% (39 mmol/mol) đến 6,4% (47 mmol/mol).
Những tình trạng rối loạn glucose huyết này chƣa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán đái tháo đƣờng nhƣng vẫn có nguy cơ xuất hiện các biến chứng mạch máu lớn của đái tháo đƣờng, đƣợc gọi là tiền đái tháo đƣờng (pre-diabetes)[1]. Phân loại bệnh đái tháo đường a) Đái tháo đƣờng týp 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối). c) Đái tháo đƣờng thai kỳ (là ĐTĐ đƣợc chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ týp 1, týp 2 trƣớc đó). d) Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, nhƣ ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hoá chất nhƣ sử dụng glucocorticoid, điều trị 6 HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… [1].
Biến chứng bệnh đái tháo đƣờng Đái tháo đƣờng nếu không đƣợc phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính. Ngƣời bệnh có thể tử vong do các biến chứng này. - Biến chứng cấp tính + Biến chứng cấp tính thƣờng là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm khuẩn cấp tính hoặc điều trị không thích hợp. Ngay cả khi điều trị đúng, hôn mê nhiễm toan ceton và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu vẫn có thể là hai biến chứng nguy hiểm.
+ Nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa glucid do thiếu insulin gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây toan hóa tổ chức. Mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiến bộ về trang thiết bị, điều trị và chăm sóc, tỷ lệ tử vong vẫn cao từ 5-10%. + Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình trạng rối loạn chuyển hóa glucose nặng, đƣờng huyết tăng cao. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu chiếm từ 5-10%.
Ở ngƣời bệnh đái tháo đƣờng týp 2 nhiều tuổi, tỷ lệ tử vong từ 30 - 50% [3]. + Nhiều ngƣời bệnh hôn mê, dấu hiệu đầu tiên của bệnh chính là tăng glucose máu. Điều đó chứng tỏ sự hiểu biết về bệnh đái tháo đƣờng còn chƣa đƣợc phổ biến trong cộng đồng. - Biến chứng mạn tính + Biến chứng tim - mạch Bệnh lý tim mạch ở ngƣời bệnh đái tháo đƣờng là biến chứng thƣờng gặp và nguy hiểm.
Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh mạch vành, nhƣng các nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành và các biến chứng tim mạch khác.