Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài: Chương này giới thiệu một cách tổng quan về luận văn: lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và nội dung của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Phần này trình bày các khái niệm nghiên cứu và nền tảng lý thuyết, các nghiên cứu trước có liên quan, giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trong chương này trình bày về quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và phương pháp xử lý số liệu được sử dụng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Chương này trình bày các kết quả đạt được sau khi phân tích dữ liệu để đưa ra các thảo luận từ giả thuyết của nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Báo cáo trình bày một cách tóm tắt các kết quả chính mà nghiên cứu đã đạt được, những đóng góp mà nghiên cứu mang lại cũng như những hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày các khái niệm then chốt của nghiên cứu và các nền tảng lý thuyết có liên quan, đặc biệt là lý thuyết về tái cấu trúc công việc, sự gắn kết công việc và kết quả công việc cá nhân. Trên cơ sở lý thuyết này, mô hình lý thuyết và các giả thuyết cũng sẽ được xây dựng dựa trên các nền tảng lý thuyết này. Các khái niệm và nền tảng lý thuyết 2.
Khái niệm tái cấu trúc công việc (job crafting) Có nhiều định nghĩa xoay quanh khái niệm tái cấu trúc công việc: Griffin (1987) đề xuất rằng tái cấu trúc công việc được xem như là cách mà người nhân viên thực hiện tương tác trong công việc với các nhân viên khác để tránh bị cô lập khỏi các nhiệm vụ công việc. Wrzesniewski & Dutton (2001) đã xác định tái cấu trúc công việc là quá trình trong đó các nhân viên thiết kế lại hoặc sửa đổi công việc của họ. Grant & Ashfor (2008) cho rằng tái thiết công việc liên quan đến việc tạo ra hoặc khởi xướng những thay đổi trong công việc. Berg & cộng sự (2010) đã định nghĩa rằng tái cấu trúc công việc có liên quan đến cách mà nhân viên khởi xướng và sử dụng quyền hạn, cơ hội của họ để sửa đổi nhiệm vụ và trách nhiệm của họ bằng cách thay thế một cách có hiệu quả các nhiệm vụ được phân công và các hành vi giao tiếp với những người khác trong công việc bởi vì nhân viên ấy có cảm hứng để thích nghi với công việc, đó là linh hoạt và phù hợp với chuyên môn, kỹ năng cũng như niềm đam mê của họ.
8 Tims & Bakker (2010) xác định rằng tái cấu trúc công việc là những thay đổi mà người nhân viên thực hiện để cân bằng nhu cầu công việc và nguồn lực công việc phù hợp với khả năng và nhu cầu cá nhân của họ. Demerouti (2014) lập luận rằng tái cấu trúc công việc là các thao tác thay đổi thuộc về nhu cầu công việc và nguồn lực công việc được khởi xướng bởi các nhân viên với mục đích làm cho công việc của họ hấp dẫn và có ý nghĩa hơn. Như vậy, tái cấu trúc công việc là cách mà nhân viên thực hiện những thay đổi trong công việc mang tính tích cực với mục đích làm cho công việc của họ hấp dẫn và có ý nghĩa hơn. Các thành phần của tái cấu trúc công việc Thay đổi nhiệm vụ công việc - task crafting (tái cấu trúc công việc thông qua thay đổi nhiệm vụ công việc): Berg & cộng sự (2013) đã lập luận rằng thay đổi nhiệm vụ công việc là nhân viên thay đổi trách nhiệm công việc chính thức của họ bằng cách thêm hoặc bỏ bớt nhiệm vụ, bằng cách thay đổi, chuyển đổi các nhiệm vụ, hoặc thời gian và công sức dành cho các nhiệm vụ khác nhau.
Tương tự thay đổi nhiệm vụ công việc, Tims & cộng sự (2012) đề xuất thành phần tăng cường nguồn lực công việc theo cấu trúc (structural job resources) là gia tăng khía cạnh tự thiết kế, chẳng hạn như cơ hội cho sự tự chủ và phát triển trong công việc. Một số ví dụ về các nguồn lực công việc là tăng quyền tự chủ và tham gia vào các quá trình ra quyết định (Burke & Richardsen, 1993). Petrou & cộng sự (2012) cũng cho rằng tái cấu trúc công việc là hành vi tự nguyện của người nhân viên tìm kiếm nguồn lực công việc (resources seeking) để nhắm đến hoàn thành mục tiêu. Thay đổi quan hệ công việc - relational crafting (tái cấu trúc công việc thông qua thay đổi quan hệ công việc): Theo như Berg & cộng sự (2013) thì thay đổi quan hệ công việc là thay đổi như thế nào, khi nào, hoặc với những ai mà người nhân viên tương tác trong 9 quá trình thực hiện nhiệm vụ công việc của họ, ví dụ như một kỹ sư phần mềm xây dựng thêm một mối quan hệ hợp tác với một nhà phân tích tiếp thị.
Trước đó, Tims & cộng sự (2012) cũng đã lập luận tương tự rằng nguồn lực công việc mang tính xã hội (increasing social job resources) là nâng cao các mặt xã hội của công việc, đơn cử như việc hỗ trợ, nhận thông tin phản hồi, tương tác với các đồng nghiệp. Thay đổi nhận thức công việc – cognitive crafting (tái cấu trúc công việc thông qua thay đổi nhận thức công việc): Berg & cộng sự (2013) đề xuất rằng thay đổi nhận thức công việc là nhân viên thay đổi cách mà họ cảm nhận những nhiệm vụ và những mối quan hệ bao gồm cả công việc của họ, đơn cử như một nhân viên bán vé nhận thấy rằng công việc của họ như là một phần thiết yếu của việc cung cấp dịch vụ giải trí cho mọi người chứ không chỉ đơn thuần là chỉ xử lý yêu cầu của khách hàng. Tái cấu trúc công việc thông qua thay đổi nhận thức công việc thì dễ dàng hơn so với thay đổi nhiệm vụ công việc và thay đổi quan hệ công việc vì nhận thức công việc có thể dễ dàng cải thiện vì nó đòi hỏi chỉ thay đổi nhận thức của nhân viên về công việc của họ trong khi thay đổi nhiệm vụ hoặc quan hệ công việc đòi hỏi nhân viên thay đổi hành vi và hành động của họ trong công việc (Wrzesniewski & Dutton, 2001). Khái niệm sự gắn kết công việc (work engagement) Kahn (1990) đã định nghĩa rằng sự gắn kết công việc là sự khai thác bản thân của mỗi thành viên tại tổ chức với vai trò công việc của họ trong sự mối liên hệ giữa người sử dụng lao động và biểu hiện của bản thân người lao động về thể chất, nhận thức, cảm xúc và tinh thần trong suốt quá trình làm việc.
Schaufeli & cộng sự (2002) nêu rằng sự gắn kết công việc là một suy nghĩ tích cực có liên quan đến công việc mà được hình thành bởi sự hăng say, sự tận tâm và sự đam mê công việc. 10 Sự gắn kết công việc hỗ trợ sự cống hiến của nhân viên vì tổ chức này trang bị cho nhân viên không chỉ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu công việc mà còn là cơ hội nâng cao và phát triển trong công việc của họ (Korunka, Kubicek, Schaufeli & Hoonakker, 2009). Alfes & cộng sự (2010) thì định nghĩa rằng sự gắn kết công việc là những biểu hiện tích cực trong suốt quá trình thực hiện công việc bằng cách sẵn sàng đóng góp công sức trí tuệ, trải qua những cảm xúc tích cực và các mối liên hệ có ý nghĩa với những người khác. Rothmann (2010) trình bày rằng sự gắn kết công việc là sự tự mở rộng mà theo đó các cá nhân có được các cơ hội để thể hiện bản thân trong các nhiệm vụ, điều này thúc đẩy sự kết nối với công việc và với mọi người.
Crawford & cộng sự (2010) lập luận rằng sự gắn kết công việc mô tả cách mà người nhân viên khai thác bản thân họ trong vai trò tổ chức bằng cách chuyển đổi năng lượng của họ thành tình cảm, nhận thức và lao động thể chất. Nghiên cứu này sử dụng khái niệm sự gắn kết công việc của Schaufeli & cộng sự (2002) để xây dựng mô hình lý thuyết. Khái niệm kết quả công việc cá nhân (individual work performance) Campell (1990) cho rằng kết quả công việc cá nhân thường được định nghĩa là hành vi hoặc hành động có liên quan đến mục tiêu của tổ chức; do đó, kết quả công việc cá nhân được định nghĩa về hành vi hoặc hành động của người lao động chứ không phải là kết quả của những hành động này. Trước đây, khái niệm kết quả công việc cá nhân tập trung chủ yếu về khía cạnh hiệu suất thực hiện nhiệm vụ, có thể được định nghĩa là là trình độ thông thạo mà các cá nhân thực hiện các nhiệm vụ (Campbell, 1990).
Các hành vi được sử dụng để mô tả hiệu suất thực hiện nhiệm vụ thường bao gồm số lượng và chất lượng 11 công việc, kỹ năng làm việc và kiến thức về công việc (Rotundo & Sackett, 2002; Campbell, 1990). Rotundo và Sackett (2002) lập luận rằng kết quả công việc cá nhân là các hành vi đang được kiểm soát của cá nhân, loại trừ các hành vi bị hạn chế bởi môi trường. Trong tâm lý nghề nghiệp, định nghĩa kết quả công việc cá nhân và cố gắng hiểu cấu trúc cơ bản của nó đã nhận được nhiều sự chú ý (Dalal, 2005). Xem xét ở góc độ chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp, theo Johns (2010) đã chỉ ra rằng sự thất bại trong kết quả công việc cá nhân là kết quả của việc vắng mặt, hoặc có mặt tại công sở trong khi bệnh.
Ngoài ra, trong lĩnh vực này, các quy định về kết quả công việc cá nhân và năng suất cá nhân thường được sử dụng thay thế cho nhau. Campell (1990) thì hiệu suất thực hiện nhiệm vụ là trình độ thông thạo mà các cá nhân thực hiện các nhiệm vụ cốt lõi của công việc. Khía cạnh thứ hai của kết quả công việc cá nhân là hiệu suất theo hoàn cảnh, Borman (1993) cho rằng đây là các hành vi hỗ trợ môi trường công việc trong tổ chức về mặt xã hội lẫn tâm lý. Gần đây hơn, sự quan tâm ngày càng tăng đối với các hành vi làm việc tích cực vì điều này gián tiếp góp phần vào mục tiêu của tổ chức.
Rotundo & Sackett (2002) thì định nghĩa rằng hành vi làm việc phản tác dụng là hành vi gây tổn hại đến lợi ích của tổ chức.