Chương 1- Tổng quan về nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu.
Chương 5 - Kết luận. Tài liệu tham khảo. 5 Chương 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2.1 Khái niệm về văn hóa Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại. Phạm trù văn hóa rất đa dạng và phức tạp.
Nó là một khái niệm có rất nhiều nghĩa, tính chất và hình thức biểu hiện. Tylor (1871), tác giả cuốn sách văn hóa nguyên thủy đã định nghĩa văn hóa là "một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được" Theo PGS.TS Trần Ngọc Thêm (1999) đã định nghĩa “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” Theo UNESCO: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Như vậy, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình 6 độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.1 Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp bước đầu xuất phát như triết lý kinh doanh của những người sáng lập doanh nghiệp.
Qua thời gian những gì được gọi là văn hóa doanh nghiệp ngày càng được phát triển và mở rộng nhiều hơn. Đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp. Mỗi một góc độ tiếp cận sẽ có những định nghĩa khác nhau. Thậm chí mỗi doanh nghiệp nhìn nhận văn hóa doanh nghiệp cũng khác nhau.
Denison (1990), tác giả của mô hình Denison nổi tiếng đã định nghĩa trong cuốn Corporate Culture and Organizational Effectiveness “Văn hóa doanh nghiệp là những giá trị cơ bản, niềm tin và những nguyên tắc”. Tác giả Martin (2004) đã định nghĩa văn hóa doanh nghiệp như một hệ thống ý nghĩa chia sẻ được tổ chức bởi các thành viên, phân biệt tổ chức này với các tổ chức khác. Các tác giả O'Reilly và cộng sự (1991) đã định nghĩa văn hóa doanh nghiệp là “Một tập hợp các nhận thức được chia sẻ bởi các thành viên của một đơn vị xã hội”. Trong tác phẩm “Organizational culture and leadership”(2004) chuyên gia nghiên cứu về tổ chức Schein đã định nghĩa của văn hóa doanh nghiệp là “Những giả định cơ bản và niềm tin được chia sẻ bởi các thành viên của tổ chức”, đồng thời ông cũng nhấn mạnh “Văn hóa doanh nghiệp là tập hợp các giá trị, chuẩn mực và niềm tin căn bản được tích lũy trong quá trình doanh nghiệp tương tác với môi trường bên ngoài và hòa nhập môi trường bên trong, giá trị và chuẩn mực này đã được xác lập qua thời gian, được truyền đạt cho những thành viên mới như một cách thức đúng để tiếp cận, tư duy và định hướng giải quyết những vấn đề họ gặp phải”.
Schein đã chia văn hóa doanh nghiệp làm ba cấp độ như sau: 7 Cấp độ thứ nhất: Cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp là giá trị biểu hiện bên ngoài của hệ thống văn hoá doanh nghiệp như: hệ thống bài trí, trang phục, các nghi lễ nội bộ, biểu tượng, ngôn ngữ, khẩu hiệu, quy trình, thủ tục và hướng dẫn. Các yếu tố này là bề nổi của văn hoá doanh nghiệp, gắn liền với hệ thống nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp. Cấp độ thứ hai: Các giá trị chia sẻ là đặc trưng của doanh nghiệp trong quá trình hình thành và phát triển được mọi người công nhận, lưu giữ và thực hiện theo. Những giá trị này được thể hiện trong quá trình ra quyết định, ứng xử của các thành viên, hay phối hợp trong công tác.
Cấp độ thứ ba: Các triết lý bao gồm triết lý kinh doanh, phương châm quản lý. Đây là cơ sở xây dựng định hướng hoạt động của doanh nghiệp và chi phối các quyết định quản lý; là niềm tin, là giá trị bền vững không thay đổi bất chấp thời gian và ngoại cảnh. Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization) được trích từ giáo trình văn hóa doanh nghiệp do nhà xuất bản tài chính phát hành như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và nghi lễ mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. Trên tư tưởng kế thừa những nghiên cứu, tác giả Đỗ Thị Phi Hoài (2009) đã định nghĩa văn hóa doanh nghiệp trong giáo trình Văn hóa doanh nghiệp do Học viện tài chính xuất bản như sau “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”.
Trong phạm vi của nghiên cứu này văn hóa doanh nghiệp được hiểu là hệ thống các giá trị, niềm tin, thái độ, các hành vi mẫu, những tương tác với thế giới bên ngoài, những kỳ vọng tương lai được chia sẻ bởi các thành viên trong doanh 8 nghiệp do đó văn hóa doanh nghiệp là đặc tính của tổ chức chứ không phải của cá nhân. Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện trong: - Những cách thức doanh nghiệp tiến hành kinh doanh, đối xử với nhân viên, khách hàng và cộng đồng. - Nhân viên được phép ra những quyết định trong phạm vi cho phép, được phát triển những ý tưởng mới, và biểu hiện cá nhân. - Tinh thần tập thể.
- Cam kết nhân viên hướng tới mục tiêu tập thể. Như vậy, xây dựng văn hóa doanh nghiệp không đơn thuần là liệt kê ra các giá trị mình mong muốn mà đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các thành viên, sự khởi xướng, cổ vũ, động viên của lãnh đạo. Cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp là tinh thần doanh nghiệp và quan điểm giá trị của doanh nghiệp. Với cách hiểu đúng đắn tổng thể về văn hóa doanh nghiệp sẽ giúp các doanh nghiệp từng bước xây dựng thành công văn hoá cho doanh nghiệp mình.2 Các thành phần đo lường văn hóa doanh nghiệp Trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp, nhiều tác giả đã đưa ra các thành phần đo lường văn hóa doanh nghiệp rất khác nhau.
Mô hình văn hóa doanh nghiệp của O'Reilly và cộng sự (1991) đưa ra có tên gọi Organizational Culture Profile (OCP) gồm tám thành phần đo lường với 54 biến quan sát như sau: o Đổi mới và chấp nhận rủi ro (Innovation and risk taking). o Định hướng vào kết quả (Orientation toward outcomes). o Chú ý đến chi tiết (Attention to detail). o Định hướng nhóm làm việc (Team orientation).
o Cạnh tranh (Competitiveness). o Nhấn mạnh vào phần thưởng (Emphasis on rewards). o Tính kiên quyết (Decisiveness). 9 Một phiên bản rút ngắn của OCP do Sarros và cộng sự (2003) qua nghiên cứu “The next generation of the organizational culture profile” đã hiệu chỉnh thang đo OCP xuống còn 28 biến quan sát với bảy yếu tố đo lường cụ thể như sau: o Năng lực cạnh tranh (Competitiveness).
o Trách nhiệm xã hội (Social responsibility). o Định hướng vào kết quả (Performance Orientation). o Nhấn mạnh vào phần thưởng (Emphasis on rewards). Hai yếu tố mới đã được thêm vào mô hình là: ổn định và trách nhiệm xã hội.
Mô hình Denison (1990) khẳng định rằng văn hóa doanh nghiệp có thể được mô tả bởi bốn thành phần như sau: o Sứ mệnh (Mission). o Khả năng thích nghi (Adaptability). Lý thuyết về văn hóa công ty của Recardo và Jolly (1997) bao gồm tám thành phần văn hóa: o Giao tiếp (Communication). o Đào tạo và Phát triển (Training and development).
o Phần thưởng và Sự công nhận (Rewards and recognition). o Hiệu quả của việc ra quyết định (Effective decision-making). o Chấp nhận rủi ro để sáng tạo và cải tiến (Risk taking for creativity and innovation). o Định hướng kế hoạch (Proactive planning).
o Làm việc nhóm (Teamwork). o Các chính sách quản trị (Consistency in management practices). 10 Mô hình văn hóa doanh nghiệp của hai tác giả Martins và Martins (2002) gồm các thành phần sau đây: o Tầm nhìn và nhiệm vụ chiến lược (Strategic vision and mission). o Tập trung khách hàng (Customer focus).
o Phương tiện để đạt được mục tiêu (Means to achieve objectives). o Quy trình quản lý (Management processes). o Nhu cầu và mục tiêu của nhân viên (Employee needs and objectives). o Mối quan hệ giữa các cá nhân (Interpersonal relationships).3 Cam kết gắn bó với tổ chức 2.1 Khái niệm cam kết gắn bó với tổ chức Cam kết gắn bó là ý định gắn bó lâu dài với tổ chức, do đó tổ chức thường cố gắng thúc đẩy cam kết trong nhân viên của họ cao lên để đạt được sự ổn định và giảm chi phí.
Những nhân viên cam kết gắn bó với tổ chức cao sẽ làm việc chăm chỉ hơn và nỗ lực hết mình để đạt được mục tiêu của tổ chức. Đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về cam kết gắn bó với tổ chức.