phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về động lực làm việc của nhân viên. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng công tác tạo động lực cho nhân viên tại Sacombank. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao động lực làm việc cho nhân viên tại Sacombank đến năm 2022. 123doc 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1.
Khái niệm về động lực làm việc 1. Định nghĩa về động lực làm việc của nhân viên Động lực làm việc của nhân viên là một trong những vấn đề rất quan trọng đối với mọi tổ chức và do đó thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Chính vì lý do này nên cũng có khá nhiều khái niệm về động lực làm việc được các tác giả đưa ra, cụ thể có thể nêu ra một số khái niệm như sau: “Động lực làm việc là những tác động từ bên trong có tác dụng thúc đẩy con người hoàn thành những mục tiêu của cá nhân hoặc tổ chức” (Lindner, 1998) “Động lực làm việc là sự sẵn sàng cố gắng hết sức để đạt được mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ” (Robbins, 1998). “Động lực làm việc là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc.
Động lực là những phương tiện mà nhờ chúng các nhu cầu mâu thuẫn nhau có thể được điều hòa hoặc một nhu cầu được đề cao hơn sao cho chúng được ưu tiên hơn các nhu cầu khác” (Koonntz & cộng sự, 2004). “Động lực thúc đẩy và sự thỏa mãn là khác nhau. Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng. Như vậy, động cơ thúc đẩy ngụ ý xu thế đi tới một kết quả, còn sự thỏa mãn là một kết quả được thực hiện” (Trần Kim Dung & Nguyễn Ngọc Lan Vy, 2011).
“Động lực hay động cơ là sức mạnh tác động lên một người hoặc sức mạnh nảy sinh trong lòng anh ta, thúc đẩy người đó hành động hướng đến một mục tiêu nhất định. Một nhân viên có động cơ làm việc cao là người năng động, chịu đầu tư sức lực và tinh thần để hoàn thành công việc của mình và đạt được chỉ tiêu đề ra” (Huỳnh Thanh Tú, 2013). Như vậy, có rất nhiều khái niệm về động lực làm việc nhưng có thể rút ra được rằng động lực là yếu tố xuất phát từ bản thân mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mong 123doc 6 muốn và mục tiêu khác nhau nên động lực của mỗi người là không giống nhau.
Chính vì vậy, nhà quản trị cần có những cách tác động hợp lý đối với từng đối tượng nhân viên trong tổ chức. Vai trò của động lực làm việc Như đã được đề cập, động lực làm việc là yếu tố nội lực giúp thúc đẩy và định hướng hành động của nhân viên hướng đến hoàn thành những mục tiêu của cá nhân và tổ chức. Do vậy việc tạo động lực cho nhân viên đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với bản thân nhân viên cũng như đối với sự phát triển của tổ chức. - Đối với nhân viên: + Động lực làm việc giúp nhân viên tự định hướng vào những mục tiêu quan trọng.
Trên cơ sở những mục tiêu chung mà tổ chức đề ra, cá nhân mỗi nhân viên sẽ tự đặt ra những mục tiêu cụ thể. Áp lực xuất phát từ bản thân nhân viên chứ không phải từ tổ chức giúp nhân viên cảm thấy thoải mái hơn, có ý thức hơn trong việc tự giác sắp xếp công việc để hoàn thành mục tiêu đề ra. + Động lực làm việc giúp nhân viên tự đánh giá và điều chỉnh bản thân. Trên cơ sở thực hiện những mục tiêu cá nhân tự đặt ra, nhân viên nhận xét những ưu điểm và hạn chế của bản thân để có biện pháp phát huy điểm mạnh cũng như khắc phục những điểm yếu để những mục tiêu tiếp theo được thực hiện hiệu quả hơn.
Tạo động lực làm việc từ đó giúp nhân viên ngày càng tự hoàn thiện bản thân. - Đối với tổ chức: Động lực làm việc của nhân viên là nhân tố then chốt đối với sự tồn tại của tổ chức trong điều kiện các yếu tố của môi trường kinh doanh thay đổi không ngừng (Smith, 1994), có thể thấy được tác động của động lực làm việc đối với tổ chức như sau: + Động lực làm việc quyết định hiệu suất làm việc của các nhân trong tổ chức. Hiệu suất làm việc của nhân viên được tính bằng công thức: P=A x R x M (Carter, S., Shelton, M, 2009), trong đó: P: Hiệu suất làm việc (Performance) A: Khả năng làm việc (Ability) R: Nguồn lực (Resource) M: Động lực làm việc (Motivation) 123doc 7 Có thể thấy yếu tố động lực làm việc đóng vai trò quan trọng đối với hiệu suất làm việc của tổ chức. Nếu nhân viên không có động lực làm việc (đông lực làm việc bằng 0) thì việc nhân viên có năng lực tốt đến đâu hay nguồn lực tổ chức có dồi dào đến mức nào thì cũng không còn ý nghĩa.
Ngược lại, nếu nhân viên được động viên, khuyến khích hợp lý thì các nguồn lực sẽ được sử dụng một cách có hiệu quả. Thêm vào đó, hiệu quả công việc vẫn có thể sẽ đạt được như mong đợi trong điều kiện năng lực làm việc của nhân viên là hạn chế. + Động lực làm việc giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của tổ chức. Khi nhân viên có động lực làm việc thì tai nạn nghề nghiệp ít xảy ra hơn, các vấn đề vi phạm đạo đức, bỏ việc hay tỷ lệ vi phạm kỷ luật cũng ít hơn (Jurkiewicz và cộng sự, 1998).
Việc tạo động lực cho nhân viên nhờ vậy giúp tổ chức tiết kiệm chi phí cho khắc phục những rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động, gia tăng sự gắn kết của nhân viên và từ đó tạo điều kiện để hoàn thành các mục tiêu dài hạn của tổ chức. + Động lực làm việc giúp gia tăng sự thỏa mãn trong công việc cũng như sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức (Bateman và Snell, 2007), nhờ đó nguồn nhân lực của tổ chức sẽ được ổn định. Điều này không những tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu dài hạn của tổ chức mà còn góp phần nâng cao hình ảnh của tổ chức trên thị trường lao động. Lý thuyết về động lực làm việc 1.
Các học thuyết về động lực làm việc 1. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Năm 1943, Abraham Maslow đã phát triển lý thuyết về thang bậc nhu cầu, đây là một trong những lý thuyết có tầm ảnh hưởng và được ứng dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực cho đến ngày nay. Maslow chia nhu cầu con người thành 5 bậc, có thể được sắp xếp theo trật tự từ thấp đến cao, bao gồm: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, và nhu cầu tự thể hiện (Xem Hình 1. Khi một nhu cầu đã được thỏa mãn thì nó không còn là động lực thúc đẩy hành vi nữa và con người sẽ có xu hướng hướng đến thỏa mãn nhu cầu ở bậc cao hơn.
Vì 123doc 8 nhu cầu của mỗi người là không giống nhau nên nhà quản lý cần thông hiểu và giúp nhân viên thỏa mãn những nhu cầu quan trọng của họ tại nơi làm việc để gia tăng hiệu quả hoàn thành công việc.1: Tháp nhu cầu của Maslow Nguồn: Phan Thăng & Nguyễn Thanh Hội, 2007 - Nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người như thực phẩm, nước, quần áo, nhà ở…Maslow cho rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn đến mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác của con người sẽ không tiến thêm nữa. - Nhu cầu an toàn: là nhu cầu cần được bảo vệ cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. - Nhu cầu xã hội: là nhu cầu được người khác chấp nhận, được yêu thương gắn bó, được giao tiếp để phát triển. - Nhu cầu được tôn trọng: bao gồm các nhu cầu được kính trọng, được quý mến, tin tưởng, địa vị, danh tiếng, thành đạt… 123doc 9 - Nhu cầu tự thể hiện: là nhu cầu được thể hiện bản thân, được khẳng định mình trong cuộc sống hay sống và làm việc theo đam mê, cống hiến hết mình cho nhân loại hoặc cộng đồng.G của Clayton Alderfer Clayton Alderfer phát triển mô hình lý thuyết mới, thuyết E.G để giải thích tính đồng thời trong năm nhu cầu của Maslow.
Lý thuyết này có 3 điểm khác biệt chủ yếu so với thuyết nhu cầu của Abraham Maslow như sau: Thứ nhất, Alderfer chia 5 nhu cầu của Maslow lại thành 3 nhóm: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ, nhu cầu phát triển + Nhu cầu tồn tại (Existence – E): bao gồm nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn. + Nhu cầu quan hệ (Relatedness – R): bao gồm nhu cầu xã hội. + Nhu cầu phát triển (Growth – G): bao gồm nhu cầu tự trọng và nhu cầu tự thể hiện. - Thứ hai, thuyết E.G không cho rằng nhu cầu nào đó phải được thỏa mãn trước khi nhu cầu khác kích hoạt hành vi con người, bất cứ một nhu cầu hay tất cả nhu cầu có thể cùng tác động đến hành vi cá nhân ở một thời điểm nào đó.
- Thứ ba, thuyết E.G cho rằng khi không thể thỏa mãn nhu cầu ở cấp độ cao hơn, một nhu cầu bậc thấp hơn đã thỏa mãn còn có thể được nhân viên mong muốn thỏa mãn tiếp và vẫn ảnh hưởng đến hành vi. Thuyết hai nhân tố của Frederich Herzberg Từ cuối năm 1959, Herzberg và cộng sự tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc thông qua phỏng vấn 200 nhân viên làm việc tại 11 nhà máy tại Pitsburg và phát triển lý thuyết hai nhân tố. Theo đó, ông chia các yếu tố tạo động cơ làm việc cho người lao động thành hai nhóm: nhân tố duy trì và nhân tố động viên. Nhân tố duy trì bao gồm những yếu tố liên quan đến môi trường làm việc.
Khi các nhân tố này được cải thiện có thể làm cho người lao động giảm bất mãn tại nơi làm việc nhưng sẽ không tăng sự thỏa mãn và không tạo ra sự động viên.