Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và mạng xã hội trực tuyến đã làm thay đổi sâu sắc phương thức giao tiếp, truyền tải thông tin, học tập và giải trí của xã hội. Tại Việt Nam, mạng xã hội có tốc độ tăng trưởng người dùng rất nhanh, với khoảng 86% người sử dụng internet từng truy cập các nền tảng mạng xã hội. Trong nhóm đối tượng thanh niên và sinh viên đại học, tỷ lệ sử dụng mạng xã hội đạt mức 96,9%, trong đó 94,7% sinh viên ghi nhận mạng xã hội mang lại kiến thức xã hội và hỗ trợ học tập.
Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội với tần suất cao, thời lượng kéo dài và tại các thời điểm không hợp lý (đặc biệt là ban đêm) tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực đến lối sống, hành vi sinh hoạt thường nhật cũng như sức khỏe thể chất và tâm lý của người học (như suy giảm thị lực, đau cột sống, rối loạn giấc ngủ, suy giảm khả năng tập trung). Sinh viên khối ngành Y Dược mang đặc thù đào tạo với khối lượng kiến thức lâm sàng và thực hành lớn, đòi hỏi cường độ tập trung cao độ và thể trạng tốt. Mặc dù vậy, tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, trước năm 2021 chưa có công trình nghiên cứu nào được tiến hành để khảo sát một cách toàn diện về chủ đề này.
Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp ngành Y Đa khoa thực hiện đề tài "Thực trạng sử dụng, ảnh hưởng của mạng xã hội đối với hành vi và sức khỏe trong sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2021" nhằm giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2021.
- Mô tả thực trạng ảnh hưởng của sử dụng mạng xã hội đối với hành vi và sức khỏe trong sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2021.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu thuộc 6 chuyên ngành đào tạo (Y Đa khoa, Dược học, Răng Hàm Mặt, Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Kỹ thuật Xét nghiệm Y học, Điều dưỡng) đang theo học tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ đề tài được thực hiện từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2022; giai đoạn thu thập dữ liệu khảo sát trực tuyến diễn ra từ tháng 11/2021 đến hết tháng 03/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên các khái niệm chuẩn tắc về dịch vụ mạng xã hội trực tuyến, khung 7 chức năng cơ bản của mạng xã hội (bao gồm: danh tính, giao tiếp, chia sẻ, hiển thị sự có mặt, liên kết, thể hiện mức độ truy cập/chất lượng thông tin, và nhóm), cùng các mô hình ứng dụng mạng xã hội trong giáo dục y khoa lâm sàng trên thế giới (như mô hình "mEducator", ứng dụng Facebook, Twitter, YouTube trong giảng dạy ca bệnh và thảo luận lâm sàng). Đồng thời, tác giả vận dụng các nghiên cứu về hành vi tiếp cận công nghệ dựa trên 4 thành phần: sự hữu ích, tính dễ sử dụng, chuẩn chủ quan và khả năng sử dụng.
Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tổng số sinh viên toàn trường tại thời điểm nghiên cứu là 1.685 sinh viên. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện bằng cách gửi bộ câu hỏi khảo sát điện tử đến tất cả các lớp sinh viên đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn. Cỡ mẫu thực tế thu thập và đưa vào phân tích là 401 sinh viên.
- Công cụ thu thập dữ liệu: Bộ câu hỏi khảo sát trực tuyến tự điền thiết kế trên nền tảng Google Forms, quản lý thông qua địa chỉ email nhằm tránh trùng lặp câu trả lời.
- Hệ thống biến số: Bao gồm 12 nhóm biến số chính phân loại theo: thông tin nhân khẩu học (giới tính, năm học, chuyên ngành), thực trạng sử dụng mạng xã hội (nền tảng, độ tuổi bắt đầu, tuổi thọ tài khoản, tính năng tương tác, mục đích, thời lượng, thời điểm truy cập), và các biến số ảnh hưởng hành vi - sức khỏe (vận động thể chất, thói quen ăn sáng, thời gian đi vào giấc ngủ, rối loạn giấc ngủ, sự tập trung ban ngày, tật khúc xạ, đau cột sống thắt lưng, sức khỏe tâm lý).
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Số liệu được làm sạch và phân tích thống kê trên phần mềm STATA 16.0. Tác giả sử dụng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) và kiểm định chính xác Fisher (Fisher's exact test) để xác định mối liên quan giữa các biến số với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.
- Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được sự phê duyệt của Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Công tác Học sinh Sinh viên; đối tượng tham gia trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện và thông tin cá nhân được bảo mật tuyệt đối.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan
Chương này hệ thống hóa các khái niệm, định nghĩa và 7 chức năng cốt lõi của mạng xã hội; phân tích mức độ phổ biến của các nền tảng mạng xã hội trên quy mô quốc tế và tại Việt Nam. Tác giả làm rõ vai trò hai mặt của mạng xã hội:
- Lợi ích: Mở rộng kết nối xã hội, cập nhật tin tức tức thời, giải trí, hỗ trợ kinh doanh trực tuyến và phục vụ giáo dục đại học. Đối với đào tạo y khoa, mạng xã hội hỗ trợ học tập dựa trên video minh họa ca lâm sàng, kết nối học viên với giảng viên và triển khai các mô hình trao đổi y khoa quốc tế.
- Tác hại: Giảm giao tiếp thực tế, gia tăng hành vi tìm kiếm sự chú ý ảo, xao nhãng mục tiêu học tập, hạn chế tư duy sáng tạo, phát sinh bạo lực ngôn từ trên không gian mạng và các tác động sinh học tiêu cực do tiếp xúc kéo dài với ánh sáng xanh từ thiết bị số.
- Tổng quan nghiên cứu: Điểm lại các công trình của các tác giả trong và ngoài nước (Lenhart, Hargittai, Clark, Lê Trần Lan Hương, Nguyễn Quý Thanh, Trần Minh Đức...) về tỷ lệ tiếp cận, thói quen truy cập ban đêm và các yếu tố tâm lý - xã hội ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên.
Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết phương pháp luận của đề tài mô tả cắt ngang trên 401 sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN. Chương II đưa ra tiêu chuẩn lựa chọn (sinh viên từ năm 1 đến năm 6 thuộc 6 chuyên ngành của trường đồng ý tham gia) và tiêu chuẩn loại trừ (sinh viên từ chối tham gia hoặc đã thôi học). Tác giả mô tả chi tiết cơ cấu mẫu khảo sát theo chuyên ngành, xây dựng bảng định nghĩa 12 nhóm biến số nghiên cứu, quy trình thu thập dữ liệu bằng biểu mẫu điện tử từ tháng 11/2021 đến tháng 03/2022, quy trình kiểm soát sai số và quy trình phân tích thống kê trên phần mềm STATA 16.0.
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Trình bày toàn bộ số liệu thu thập được thông qua các bảng thống kê và biểu đồ:
- Cơ cấu đối tượng: 68,33% nữ ($n=274$), 31,67% nam ($n=127$); sinh viên năm thứ ba chiếm tỷ lệ cao nhất (49,13%); phân bố theo ngành gồm Y Đa khoa (44,39%), Dược học (21,45%), Răng Hàm Mặt (19,20%), Kỹ thuật Hình ảnh (7,98%), Điều dưỡng (4,74%), Kỹ thuật Xét nghiệm (2,24%).
- Thực trạng sử dụng mạng xã hội: 100% sinh viên sử dụng mạng xã hội. Các nền tảng phổ biến nhất là Facebook (97,26%), YouTube (84,54%), Instagram (78,05%), Zalo (56,34%), TikTok (42,14%). 55,86% sinh viên bắt đầu sử dụng mạng xã hội từ cấp THCS (11–15 tuổi); 53,37% có tài khoản hoạt động trên 5 năm; 68,58% từng bị khóa tài khoản; 68,83% sử dụng mạng xã hội $\ge 2$ giờ mỗi ngày; 51,62% sử dụng sau 22 giờ đêm.
- Tác động đến hành vi: 55,61% sinh viên không duy trì hoạt động thể chất $>2$ giờ/tuần; 56,61% không duy trì ăn sáng hàng ngày. Tỷ lệ không tập thể dục ở nhóm dùng mạng xã hội $\ge 2$ giờ/ngày cao hơn nhóm dùng $<2$ giờ/ngày (57,97% so với 50,40%, $p=0,005$). Nhóm sử dụng mạng xã hội sau 22 giờ đêm có tỷ lệ bỏ bữa sáng lên tới 75,85% (so với 36,08% ở nhóm dùng trước 22 giờ, $p=0,005$).
- Tác động đến sức khỏe: 62,34% sinh viên đi ngủ sau 23 giờ. Tỷ lệ mắc tật khúc xạ toàn mẫu là 76,31%, đau cột sống thắt lưng là 15,96%, gặp vấn đề tâm lý là 14,96%. Tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở nhóm sử dụng mạng xã hội sau 22 giờ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không sử dụng sau 22 giờ (82,12% so với 70,10%, $p=0,005$). Tỷ lệ gặp vấn đề tâm lý ở nhóm dùng $\ge 2$ giờ/ngày cao hơn nhóm dùng $<2$ giờ/ngày (18,67% so với 12,00%, $p=0,012$).
Chương IV: Bàn luận
Tác giả so sánh các phát hiện nghiên cứu với các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế:
- Khẳng định tính tương đồng về sự thống trị của Facebook, đồng thời lý giải sự gia tăng mạnh mẽ của YouTube và Instagram ở sinh viên Y Dược xuất phát từ nhu cầu tiếp cận tư liệu hình ảnh và video bài giảng phục vụ thực hành lâm sàng.
- Bàn luận về tình trạng trẻ hóa độ tuổi tiếp cận mạng xã hội (dưới 15 tuổi chiếm đa số), xu hướng lập tài khoản ẩn danh hoặc khai sai độ tuổi, nguy cơ mất an toàn thông tin cá nhân và tiếp cận thông tin sai lệch trước tuổi trưởng thành.
- Phân tích cơ chế tác động qua lại giữa thói quen thức khuya lướt mạng xã hội với việc đảo lộn nhịp sinh học, suy giảm khả năng tập trung ban ngày, bỏ bữa sáng dẫn đến nguy cơ bệnh lý tiêu hóa, và ảnh hưởng của bức xạ ánh sáng xanh đối với sự suy giảm thị lực và sức khỏe tâm thần của sinh viên y khoa.
Kết quả và đóng góp
1. Bảng tổng hợp các chỉ số thực trạng sử dụng mạng xã hội ($n=401$)
| Chỉ số khảo sát |
Phân loại |
Số lượng ($n$) |
Tỷ lệ (%) |
| Nền tảng mạng xã hội sử dụng |
Facebook |
390 |
97,26 |
|
YouTube |
339 |
84,54 |
|
Instagram |
313 |
78,05 |
|
Zalo |
226 |
56,34 |
|
TikTok |
169 |
42,14 |
| Độ tuổi bắt đầu sử dụng |
6 – 10 tuổi (Tiểu học) |
17 |
4,24 |
|
11 – 15 tuổi (THCS) |
224 |
55,86 |
|
16 – 18 tuổi (THPT) |
152 |
37,91 |
|
Trên 18 tuổi (Đại học) |
8 |
2,00 |
| Thời lượng sử dụng hàng ngày |
$\le 1$ giờ |
8 |
2,00 |
|
Trên 1 đến 2 giờ |
117 |
29,18 |
|
Trên 2 đến 3 giờ |
89 |
22,19 |
|
Trên 3 đến 4 giờ |
109 |
27,18 |
|
Trên 4 giờ |
78 |
19,45 |
| Thời điểm truy cập trong ngày |
Từ 18h đến dưới 22h |
212 |
52,87 |
|
Sau 22h đêm |
207 |
51,62 |
| Mục đích sử dụng chính |
Liên lạc, trao đổi |
312 |
77,80 |
|
Giải trí (video, âm nhạc) |
262 |
65,34 |
|
Cập nhật tin tức ngành nghề |
255 |
63,59 |
|
Cập nhật đời sống xã hội |
234 |
58,35 |
2. Mối liên quan giữa sử dụng mạng xã hội với hành vi và sức khỏe
| Mối liên quan khảo sát |
Nhóm tiếp xúc |
Tỷ lệ biến cố (%) |
Nhóm đối chứng |
Tỷ lệ biến cố (%) |
Giá trị $p$ |
| Thời lượng $\ge 2$h/ngày và Không tập thể dục |
$\ge 2$ giờ |
57,97 |
$<2$ giờ |
50,40 |
$p = 0,005$ |
| Dùng sau 22h và Không duy trì bữa sáng |
Dùng sau 22h |
75,85 |
Dùng $\le 22$h |
36,08 |
$p = 0,005$ |
| Thời lượng $\ge 2$h/ngày và Mất tập trung ban ngày |
$\ge 2$ giờ |
44,93 |
$<2$ giờ |
44,00 |
$p = 0,001$ |
| Dùng sau 22h và Mắc tật khúc xạ |
Dùng sau 22h |
82,12 |
Dùng $\le 22$h |
70,10 |
$p = 0,005$ |
| Thời lượng $\ge 2$h/ngày và Gặp vấn đề tâm lý |
$\ge 2$ giờ |
18,67 |
$<2$ giờ |
12,00 |
$p = 0,012$ |
3. Đóng góp và giải pháp của tác giả
- Đóng góp khoa học: Đây là công trình đầu tiên cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng về thực trạng sử dụng thiết bị số và mạng xã hội của sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN, chỉ ra các mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời lượng, thời điểm lướt mạng với các rối loạn sinh hoạt và bệnh lý học đường.
- Giải pháp, kiến nghị đề xuất: Tác giả đề xuất nhà trường và các tổ chức đoàn thể cần tăng cường định hướng cho sinh viên về phương pháp quản lý thời gian sử dụng thiết bị số; khuyến khích sinh viên duy trì tập luyện thể dục thể thao và thói quen ăn sáng; xây dựng môi trường truyền thông học thuật chính thống; hướng dẫn sinh viên khai thác thế mạnh của mạng xã hội phục vụ học tập lâm sàng có kiểm soát thay vì lướt mạng thụ động vào ban đêm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của đại dịch khiến việc thu thập dữ liệu phải tiến hành hoàn toàn qua kênh trực tuyến (Google Forms), áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện nên tính đại diện chưa đạt mức tối ưu. Khóa luận cũng chưa đi sâu phân tích chi tiết bản chất từng dạng nội dung truyền thông mà sinh viên tiếp cận hàng ngày trên các nền tảng mạng xã hội.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại nhiều cơ sở đào tạo y dược khác nhau; phát triển các thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc hoặc can thiệp nhằm đánh giá sâu hơn mối quan hệ nhân quả giữa thói quen tiêu thụ nội dung số với kết quả học tập lâm sàng và sức khỏe tâm thần của sinh viên y khoa.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên theo học các ngành Y Đa khoa, Dược học, Răng Hàm Mặt, Điều dưỡng, Kỹ thuật Y học; cán bộ quản lý đào tạo và công tác học sinh sinh viên tại các trường đại học y dược; các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực Y học dự phòng, Y tế công cộng, Xã hội học y tế và Tâm lý học hành vi.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao: Khung biến số khảo sát tích hợp giữa hành vi công nghệ và sức khỏe thể chất - tâm lý; bộ số liệu thống kê chi tiết về tỷ lệ sử dụng mạng xã hội, tần suất thức khuya, tỷ lệ mắc tật khúc xạ và thói quen sinh hoạt của sinh viên y khoa; quy trình xử lý và kiểm định thống kê y sinh học bằng phần mềm STATA 16.0.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ sinh viên trong nghiên cứu sử dụng mạng xã hội từ 2 giờ mỗi ngày trở lên là bao nhiêu và ngành nào có tỷ lệ này cao nhất?
Nghiên cứu ghi nhận 68,83% sinh viên (276/401 sinh viên) sử dụng mạng xã hội từ 2 giờ trở lên mỗi ngày. Xét theo chuyên ngành đào tạo, sinh viên ngành Kỹ thuật Xét nghiệm Y học có tỷ lệ sử dụng mạng xã hội $\ge 2$ giờ/ngày cao nhất với 100% (9/9 sinh viên), tiếp theo là ngành Dược học với 80,23% (69/86 sinh viên).
2. Nền tảng mạng xã hội nào được sinh viên sử dụng phổ biến nhất?
Nền tảng phổ biến nhất là Facebook với tỷ lệ 97,26% (390 sinh viên), đứng thứ hai là YouTube với 84,54% (339 sinh viên), thứ ba là Instagram với 78,05% (313 sinh viên), thứ tư là Zalo với 56,34% (226 sinh viên) và TikTok đạt 42,14% (169 sinh viên).
3. Việc sử dụng mạng xã hội sau 22 giờ đêm có mối liên quan như thế nào đến thói quen ăn sáng và tật khúc xạ của sinh viên?
Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê: nhóm sinh viên dùng mạng xã hội sau 22 giờ có tỷ lệ không duy trì bữa sáng hàng ngày lên tới 75,85% (so với 36,08% ở nhóm dùng $\le 22$ giờ, $p=0,005$), đồng thời tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở nhóm dùng sau 22 giờ cũng cao hơn rõ rệt so với nhóm dùng trước 22 giờ (82,12% so với 70,10%, $p=0,005$).
4. Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ sinh viên gặp phải các vấn đề về sức khỏe (thị lực, cột sống, tâm lý) cụ thể là bao nhiêu?
Trong tổng số 401 sinh viên tham gia khảo sát, có 76,31% sinh viên (306 người) mắc tật khúc xạ về mắt, 15,96% sinh viên (64 người) bị đau cột sống thắt lưng và 14,96% sinh viên (60 người) tự ghi nhận gặp các vấn đề về tâm lý.
5. Độ tuổi bắt đầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên tập trung nhiều nhất ở giai đoạn nào?
Phần lớn sinh viên bắt đầu tiếp cận mạng xã hội từ cấp THCS (độ tuổi 11–15 tuổi) với tỷ lệ 55,86% (224 sinh viên), tiếp theo là giai đoạn học THPT (16–18 tuổi) chiếm 37,91% (152 sinh viên); tỷ lệ bắt đầu dùng từ cấp Tiểu học (6–10 tuổi) là 4,24% và chỉ có 2,00% bắt đầu sử dụng khi lên đại học.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Anh Huy đã phản ánh toàn diện thực trạng 100% sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2021 sử dụng mạng xã hội, trong đó phần lớn bắt đầu từ lứa tuổi học sinh và dành trên 2 giờ mỗi ngày cho các nền tảng trực tuyến (chủ yếu là Facebook và YouTube). Nghiên cứu chứng minh thực nghiệm rằng thói quen sử dụng mạng xã hội với thời lượng kéo dài và truy cập sau 22 giờ đêm có mối liên quan chặt chẽ với việc bỏ bữa sáng, lười vận động thể chất, gia tăng tỷ lệ mắc tật khúc xạ, suy giảm sự tập trung và tăng nguy cơ gặp vấn đề tâm lý. Kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý sinh viên y khoa và định hướng các can thiệp nâng cao sức khỏe học đường trong môi trường đại học.