Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và mạng xã hội trực tuyến đã làm thay đổi căn bản phương thức giao tiếp, truyền tải thông tin cũng như thói quen sinh hoạt của cộng đồng. Tại Việt Nam, mạng xã hội ghi nhận tốc độ tăng trưởng người dùng rất cao, trong đó tỷ lệ sinh viên tiếp cận và sử dụng chiếm đến 96,9%. Đối với khối ngành khoa học sức khỏe, mạng xã hội mang lại nhiều giá trị trong việc cập nhật kiến thức y khoa, trao đổi học thuật và hỗ trợ thực hành lâm sàng qua các nền tảng trực quan. Tuy nhiên, việc sử dụng với cường độ cao và phân bổ thời gian không hợp lý cũng kéo theo nhiều tác động tiêu cực đến hành vi lối sống, chất lượng giấc ngủ, thị lực, sức khỏe cơ xương khớp và tâm lý của sinh viên.
Trước thực tế chưa có nghiên cứu cụ thể nào về chủ đề này được thực hiện tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả Ngô Anh Huy đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thực trạng trên.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua 2 mục tiêu:
- Mô tả thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2021.
- Mô tả thực trạng ảnh hưởng của sử dụng mạng xã hội đối với hành vi và sức khỏe trong sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2021.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu thuộc 6 chuyên ngành đào tạo (Y đa khoa, Dược học, Răng hàm mặt, Kỹ thuật hình ảnh y học, Kỹ thuật xét nghiệm y học và Điều dưỡng) đang theo học tại trường, tự nguyện đồng ý tham gia khảo sát. Tiêu chuẩn loại trừ gồm các sinh viên không đồng ý tham gia hoặc đã thôi học.
- Phạm vi không gian: Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ đề tài thực hiện từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2022; giai đoạn thu thập số liệu khảo sát trực tuyến diễn ra từ tháng 11/2021 đến hết tháng 03/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở khái niệm dịch vụ mạng xã hội trực tuyến và hệ thống hóa 7 chức năng cơ bản của mạng xã hội bao gồm: danh tính, giao tiếp, chia sẻ, hiển thị sự có mặt, liên kết, thể hiện mức độ truy cập/chất lượng thông tin, và chức năng nhóm. Khóa luận cũng tổng quan các mô hình ứng dụng mạng xã hội trong giáo dục y khoa lâm sàng trên thế giới như mô hình mEducator ("Thực hành tốt nhất"), cùng các nghiên cứu đánh giá tác động của môi trường số tới hành vi và sức khỏe sinh viên.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo các quy chuẩn dịch tễ học học thuật:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Quần thể nghiên cứu gồm 1.685 sinh viên toàn trường. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng, gửi phiếu khảo sát trực tuyến đến tất cả các lớp sinh viên thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn. Cỡ mẫu thực tế thu thập và đưa vào phân tích là 401 sinh viên.
- Công cụ thu thập dữ liệu: Bộ câu hỏi tự điền thiết kế trên nền tảng biểu mẫu điện tử Google Form, thu thập thông tin nhân khẩu học (giới tính, năm học, ngành học), đặc điểm sử dụng mạng xã hội (nền tảng, độ tuổi bắt đầu, thời lượng, thời điểm, mục đích, tương tác), thói quen hành vi (tập thể dục, duy trì bữa sáng) và các vấn đề sức khỏe (giấc ngủ, khả năng tập trung, tật khúc xạ, đau cột sống thắt lưng, tâm lý). Sai số được kiểm soát bằng cách giới hạn mỗi tài khoản thư điện tử chỉ trả lời một lần.
- Xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm thống kê STATA 16.0. Sử dụng kiểm định Khi bình phương ($\chi^2$) và kiểm định chính xác Fisher (Fisher's exact test) để đánh giá mối liên quan và sự khác biệt tỷ lệ giữa các nhóm biến số, với mức ý nghĩa thống kê được chọn là $p < 0,05$.
- Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được sự phê duyệt và cho phép của Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Công tác Học sinh Sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN. Sinh viên tham gia hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện sau khi được giải thích mục tiêu; thông tin cá nhân được mã hóa và bảo mật tuyệt đối.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan
Chương I hệ thống hóa cơ sở lý luận về mạng xã hội, định nghĩa, lịch sử phát triển và 7 chức năng nền tảng. Tác giả phân tích các ứng dụng thực tiễn của mạng xã hội trong đời sống, tuyển dụng, tiếp thị và giáo dục y khoa lâm sàng (điển hình như việc tích hợp Facebook, Twitter, Youtube vào đào tạo dược lão khoa, điều dưỡng và thảo luận ca bệnh). Bên cạnh các lợi ích về kết nối, giải trí và bồi dưỡng kỹ năng, chương này phân tích các tác hại tiềm ẩn như nghiện mạng xã hội, giảm tương tác đời thực, giảm khả năng tập trung sáng tạo, bạo lực mạng và các nguy cơ bệnh lý do tiếp xúc lâu với ánh sáng xanh từ thiết bị điện tử. Cuối chương, tác giả tổng hợp các nghiên cứu trong nước và quốc tế về thực trạng và các yếu tố chi phối hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên.
Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương II mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu thực nghiệm. Chương nêu rõ tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng, địa điểm và khung thời gian thực hiện đề tài. Cỡ mẫu 401 sinh viên được phân bổ cụ thể theo cơ cấu 6 chuyên ngành: Y đa khoa (178 sinh viên - 44,39%), Dược học (86 sinh viên - 21,45%), Răng hàm mặt (77 sinh viên - 19,20%), Kỹ thuật hình ảnh y học (32 sinh viên - 7,98%), Điều dưỡng (19 sinh viên - 4,74%) và Kỹ thuật xét nghiệm y học (9 sinh viên - 2,24%). Tác giả xác lập bảng biến số nghiên cứu, quy trình thu thập trực tuyến qua Google Form, các thuật toán kiểm định thống kê trên phần mềm STATA 16.0, quy chuẩn đạo đức nghiên cứu và nhận diện hạn chế phương pháp luận do dịch bệnh.
Mẫu khảo sát trực tuyến (n = 401 sinh viên)
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Chương III trình bày toàn bộ số liệu thống kê thu thập từ 401 sinh viên thông qua 24 bảng số liệu và 6 biểu đồ, chia thành hai nhóm nội dung chính:
- Thực trạng sử dụng mạng xã hội:
- 100% sinh viên tham gia khảo sát đều sử dụng mạng xã hội.
- Nền tảng phổ biến nhất: Facebook (97,26%), tiếp theo là Youtube (84,54%), Instagram (78,05%), Zalo (56,34%) và Tiktok (42,14%).
- Độ tuổi bắt đầu sử dụng: Phổ biến nhất từ 11–15 tuổi (55,86%) và 16–18 tuổi (37,91%); có 4,24% sử dụng từ bậc tiểu học (6–10 tuổi).
- Thời lượng và thời điểm: 68,83% sinh viên sử dụng trên 2 giờ mỗi ngày; 52,87% sử dụng trong khung giờ 18h–22h và 51,62% tiếp tục sử dụng sau 22h đêm.
- Mục đích sử dụng: Liên lạc trao đổi (77,80%), giải trí (65,34%), cập nhật tin tức ngành nghề/công việc (63,59%), theo dõi tin tức đời sống (58,35%).
- Ảnh hưởng đối với hành vi và sức khỏe:
- Hành vi thể chất và dinh dưỡng: Có 55,61% sinh viên không duy trì hoạt động thể thao $>2$ giờ/tuần; 56,61% không duy trì ăn sáng đều đặn. Nhóm sử dụng mạng xã hội $\ge 2$ giờ/ngày và sử dụng sau 22h có tỷ lệ bỏ bữa sáng và lười vận động cao hơn rõ rệt ($p < 0,05$).
- Giấc ngủ và sự tập trung: 62,34% sinh viên đi ngủ sau 23h; 16,96% mất trên 30 phút mới vào được giấc ngủ; 47,13% không duy trì được sự tập trung trong học tập ban ngày.
- Bệnh lý mắc phải: Tỷ lệ mắc tật khúc xạ chiếm 76,31% (trong đó nhóm dùng sau 22h mắc tật khúc xạ lên tới 82,12%, $p = 0,005$); đau cột sống thắt lưng chiếm 15,96%; gặp vấn đề về tâm lý chiếm 14,96% (nhóm dùng $\ge 2$ giờ/ngày có tỷ lệ bất ổn tâm lý 18,67% so với 12,00% ở nhóm dùng $<2$ giờ, $p = 0,012$).
Chương IV: Bàn luận
Chương IV biện giải các kết quả nghiên cứu trong sự đối sánh với các công trình trước đây. Tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ sinh viên sử dụng Facebook và Youtube ở mức rất cao xuất phát từ nhu cầu học tập đặc thù của sinh viên Y Dược (tìm kiếm video bài giảng lâm sàng, tài liệu chuyên ngành). Tác giả phân tích sâu về nguyên nhân độ tuổi bắt đầu sử dụng mạng xã hội ngày càng trẻ hóa do sự phổ cập thiết bị thông minh, dẫn đến nguy cơ mất an toàn thông tin và tiếp xúc nội dung độc hại sớm. Chương này cũng phân tích cơ chế việc lạm dụng mạng xã hội về đêm gây ức chế sản sinh melatonin, làm xáo trộn nhịp sinh học, dẫn đến tình trạng mất ngủ, thức khuya, bỏ bữa sáng, suy giảm thị lực và căng thẳng tâm lý ở sinh viên y khoa.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa chi tiết các chỉ số thực trạng và xác định mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hành vi sử dụng mạng xã hội với sức khỏe của sinh viên Y Dược qua các bảng số liệu:
| Chỉ số nghiên cứu | Nhóm đặc tính | Tỷ lệ (%) / Số lượng | Mức ý nghĩa ($p$) |
|---|---|---|---|
| Nền tảng sử dụng | Facebook Youtube Zalo Tiktok |
97,26% (390 sv) 84,54% (339 sv) 78,05% (313 sv) 56,34% (226 sv) 42,14% (169 sv) |
- |
| Thời lượng sử dụng/ngày | $\ge 2$ giờ/ngày $<2$ giờ/ngày |
68,83% (276 sv) 31,18% (125 sv) |
- |
| Không tập thể dục (>2h/tuần) | Nhóm dùng MXH $\ge 2$h/ngày Nhóm dùng MXH $<2$h/ngày |
57,97% (160 sv) 50,40% (63 sv) |
$p = 0,005$ |
| Không duy trì bữa sáng | Nhóm dùng MXH $\ge 2$h/ngày Nhóm dùng MXH $<2$h/ngày |
60,14% (166 sv) 48,80% (61 sv) |
$p = 0,001$ |
| Bỏ bữa sáng theo thời điểm | Nhóm dùng MXH sau 22h Nhóm dùng MXH $\le 22$h |
75,85% (157 sv) 36,08% (70 sv) |
$p = 0,005$ |
| Tật khúc xạ theo thời điểm | Nhóm dùng MXH sau 22h Nhóm dùng MXH $\le 22$h |
82,12% (170 sv) 70,10% (136 sv) |
$p = 0,005$ |
| Vấn đề tâm lý theo thời lượng | Nhóm dùng MXH $\ge 2$h/ngày Nhóm dùng MXH $<2$h/ngày |
18,67% (45 sv) 12,00% (15 sv) |
$p = 0,012$ |
Kiến nghị của tác giả:
- Sinh viên cần nâng cao nhận thức, tự xây dựng kế hoạch quản lý thời gian sử dụng mạng xã hội hợp lý, hạn chế dùng sau 22h đêm để bảo vệ thị lực và nhịp sinh học.
- Duy trì thói quen tập luyện thể thao ít nhất 2 giờ/tuần và bảo đảm ăn sáng đầy đủ trước khi tham gia học tập, trực lâm sàng.
- Nhà trường và các tổ chức Đoàn - Hội cần tăng cường truyền thông về văn hóa mạng, tổ chức các sân chơi ngoại khóa thể chất và hỗ trợ tư vấn tâm lý học đường cho sinh viên.
Đóng góp của khóa luận: Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên cung cấp bức tranh dịch tễ học toàn diện về hành vi sử dụng mạng xã hội và tác động đa chiều tới sức khỏe, thói quen sinh hoạt của sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN, tạo tiền đề số liệu cho các can thiệp sức khỏe học đường tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu bị giới hạn về quy mô mẫu (thu thập được 401 trên tổng số 1.685 sinh viên) do bối cảnh dịch bệnh buộc phải triển khai khảo sát hoàn toàn qua hình thức trực tuyến; đồng thời chưa đi sâu bóc tách nội dung chi tiết mà sinh viên tiếp cận trên không gian mạng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp trực tiếp, theo dõi dọc về mối quan hệ nhân quả giữa nội dung thông tin y học tiếp cận trên mạng xã hội với kết quả học tập và năng lực thực hành lâm sàng của sinh viên y khoa.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên y khoa, giảng viên bộ môn Y học cộng đồng - Y học dự phòng, các cán bộ quản lý công tác sinh viên tại các trường đại học khối ngành sức khỏe. Cấu trúc bảng biến số, quy trình xử lý thống kê bằng STATA và các chỉ số dịch tễ học thực nghiệm trong văn bản có giá trị thực tiễn cao cho những đề tài nghiên cứu về hành vi lối sống và sức khỏe học sinh, sinh viên.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận ghi nhận những nền tảng mạng xã hội nào được sinh viên sử dụng nhiều nhất? Kết quả khảo sát trên 401 sinh viên cho thấy Facebook dẫn đầu với tỷ lệ 97,26% (390 sinh viên), tiếp theo là Youtube chiếm 84,54% (339 sinh viên), Instagram đạt 78,05% (313 sinh viên), Zalo đạt 56,34% (226 sinh viên) và Tiktok chiếm 42,14% (169 sinh viên).
2. Thời lượng và khung giờ sử dụng mạng xã hội của sinh viên phân bố ra sao? Có 68,83% sinh viên sử dụng mạng xã hội từ 2 giờ mỗi ngày trở lên (trong đó 27,18% dùng từ 3–4 giờ và 19,45% dùng trên 4 giờ). Về thời điểm, phần lớn sinh viên tập trung sử dụng vào ban đêm: 52,87% sử dụng từ 18h đến dưới 22h và 51,62% tiếp tục sử dụng sau 22h đêm.
3. Việc sử dụng mạng xã hội ảnh hưởng như thế nào đến thói quen thể dục và ăn sáng của sinh viên? Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê: nhóm dùng mạng xã hội $\ge 2$ giờ/ngày có tỷ lệ không tập thể dục (57,97%) và không ăn sáng (60,14%) cao hơn đáng kể so với nhóm dùng $<2$ giờ/ngày ($p = 0,005$ và $p = 0,001$). Đặc biệt, có đến 75,85% sinh viên dùng mạng sau 22h không duy trì được bữa sáng ($p = 0,005$).
4. Nghiên cứu chỉ ra những vấn đề sức khỏe nào có liên quan đến việc lạm dụng mạng xã hội? Tỷ lệ mắc tật khúc xạ chung là 76,31%, trong đó nhóm dùng mạng xã hội sau 22h đêm mắc tật khúc xạ lên tới 82,12% ($p = 0,005$). Tỷ lệ sinh viên gặp vấn đề tâm lý ở nhóm dùng mạng xã hội $\ge 2$ giờ/ngày là 18,67%, cao hơn rõ rệt so với mức 12,00% ở nhóm dùng $<2$ giờ/ngày ($p = 0,012$). Ngoài ra, có 62,34% sinh viên đi ngủ sau 23h và 47,13% không giữ được sự tập trung trong học tập ban ngày.
5. Khóa luận sử dụng phương pháp và phần mềm thống kê nào để xử lý số liệu? Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang với công cụ thu thập số liệu qua biểu mẫu Google Form; toàn bộ số liệu được làm sạch và phân tích bằng phần mềm thống kê STATA 16.0, áp dụng các thuật toán kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$) và kiểm định chính xác Fisher để xác định mức ý nghĩa thống kê.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Anh Huy đã phản ánh toàn diện thực trạng sử dụng mạng xã hội với tỷ lệ tuyệt đối 100% trong sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2021, trong đó phần lớn sử dụng trên 2 giờ mỗi ngày và có thói quen hoạt động trực tuyến sau 22h đêm. Công trình đã chứng minh mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời lượng, thời điểm dùng mạng xã hội với việc suy giảm hoạt động thể chất, bỏ bữa sáng, rối loạn giấc ngủ, giảm tập trung, tăng nguy cơ mắc tật khúc xạ và bất ổn tâm lý. Những số liệu thực nghiệm này là căn cứ khoa học quan trọng để nhà trường và sinh viên xây dựng các giải pháp cân bằng lối sống, nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần trong môi trường đào tạo y khoa.