PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Công nghệ thông tin phát triển đã đáp ứng rất nhiều nhu cầu của con người, một trong những công nghệ quan trọng nhất trong số đó là sự xuất hiện của internet, mà một trong những ứng dụng quan trọng nhất của internet hiện nay chính là việc kết nối và liên lạc, cụ thể của nó chính là sự xuất hiện của các trang mạng xã hội (MXH), nó xuất hiện đã đáp ứng rất tốt cho con người trong việc liên lạc, việc phải chờ đợi để nhận một bức thư từ người thân hay việc phải tốn một mức phí rất lớn để có thể liên lạc với người thân ở nơi khác, nhất là những người ở nước ngoài đã không còn nữa, MXH ngày càng có nhiều ứng dụng và chức năng hơn, nó tương tự như khi xuất hiện điên thoại di động và việc điện thoại dần dần đã thay chế luôn chức năng của điện thoại bàn, máy nhắn tin, máy nghe nhạc, máy chơi game.có thể nói hiện nay MXH đã là một công cụ vô cùng phổ biến trên thế giới. Theo báo cáo của We are social năm 2018 thì tính đến tháng 1/2018 thế giới có hơn 7,5 tỷ người và có 53% trong số này, tức là hơn 4 tỷ người sử dụng internet, và cũng có tới 3,1 tỷ người sử dụng MXH, chiếm 42% tổng dân số thế giới và tăng 13% so với tháng 1/2017 [30, tr. 7] có thể thấy MXH ngày càng phổ biến trên thế giới.
Ở Việt Nam cũng vậy, có 64 triệu người Việt Nam đang sử dụng internet, trong đó có 55 triệu người sử dụng MXH, chiếm tới 57% dân số của Việt Nam, con số này lớn hơn 20% so với số người dùng năm 2017. Người Việt dành trung bình 6 giờ 52 phút mỗi ngày cho việc sử dụng internet, trong đó hơn 3 giờ là sử dụng internet bằng điện thoại, và 2 giờ 37 phút là dành cho MXH. Tại Việt Nam có tới 94% người sử dụng internet mỗi ngày [42, tr. Có thể nhận thấy được là MXH ngày càng trở nên quan trọng và gắn liền nhiều hơn với đời sống mỗi người ở Việt Nam, nhưng mặt khác có thể nhận thấy rằng thời gian sử dụng internet ở nước ta là khá lớn, nó gần với thời gian mà một người lao động bình thường của một lao động theo quy định của bộ luật lao động là 8 tiếng, nếu với tần suất sử dụng như vậy người sử dụng internet hay MXH không sử dụng nó với các mục đích rõ ràng và đúng đắn thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của chính cá nhân đó và lớn hơn nữa là xã hội về nhiều mặt.
7 z Giới trẻ ở Việt Nam, nhất là sinh viên (SV) hầu hết đều sử dụng MXH, kết quả khảo sát từ một nghiên cứu về sinh viên thực hiện ở sáu thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng và TP. HCM đã cho kết quả là 99% sinh viên sử dụng MXH, nghiên cứu cũng chỉ ra sinh viên sử dụng MXH với thời gian trung bình là từ 3 đến 5 giờ mỗi ngày [7, tr. Nếu như sử dụng 3 đến 5 tiếng mỗi ngày để sử dụng MXH, thì chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng đến thời gian dành cho các hoạt động khác, vì vậy vấn đề sinh viên sử dụng MXH như thế nào, với tần suất mục đích, phương tiện ra sao, và việc sử dụng đó bị ảnh hưởng bởi yếu tố nào và sẽ có ảnh hưởng gì đến kết quả học tập của sinh viên là những thông tin rất cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện công nghệ cho giáo dục. Trường ĐHKHXH&NV là một trong trường đại học hàng đầu tại Việt Nam đào tạo về các lĩnh vực khoa học xã hội, vì vậy các sinh viên tại đây sẽ ít nhiều hiểu biết và quan tâm nhiều hơn về các vấn đề xã hội, do đó MXH sẽ là một kênh quan trọng cho các sinh viên tại đây cho việc tìm hiểu và có thêm các thông tin về tình hình kinh tế, xã hội và các vấn đề khác nữa của nước ta và cả các quốc gia khác trên thế giới.
Vì các vấn đề trên, tôi quyết định chọn đề tài “Việc sử dụng mạng xã hội và kết quả học tập của sinh viên nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn” để nghiên cứu và làm rõ.Tổng quan nghiên cứu Việc tìm hiểu những ảnh hưởng của MXH vẫn đang là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước do sự phổ biến và ngày càng liên hệ chặt chẽ của nó với các cá nhân trong xã hội.Alvarez và Marialexa Olivera-Smith trong nghiên cứu năm 2013 của mình đã chỉ ra rằng, các trang MXH của cá nhân không phải là môi trường học tập, nhưng nó có đủ khả năng và cơ hội để cải thiện việc học của sinh viên trong môi trường đại học. Điều này được hỗ trợ bởi một thực tế là hoạt động đúng đắn của một nhóm học tập trong MXH từ qua các trao đổi kiến thức và ý tưởng giữa những người tham gia, sự chuyển đổi vai trò giáo viên, sinh viên và ngược lại. Đó là về 8 z nguyên tắc họ khi chia sẻ mục tiêu học tập chung và cùng nhau tạo nên một nền tảng để chia sẻ kinh nghiệm của họ. Vai trò của giáo viên trong môi trường liên kết của MXH là tìm kiếm các phương pháp thay thế để thúc đẩy sự hợp tác giữa các sinh viên, góp phần tự điều chỉnh việc học và thậm chí cả đổi mới trong đánh giá.
Và việc thúc đẩy hiệu quả của sử dụng các trang MXH cho giáo dục cần phải có các chính sách cụ thể và cần có một hệ thống đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho cả giáo viên và sinh viên [35, tr. Nghiên cứu của Kristin Sherman năm 2013 về cách mà mạng xã hội thay đổi cách suy nghĩ và học tập, tác giả nghiên cứu việc sử dung MXH từ quan điểm thần kinh học và đã chỉ ra rằng khi nhận được một đoạn thông tin nhỏ, ví dụ như tweet hoặc cập nhật trạng thái trên Facebook, bộ não sẽ phát ra dophamine, chất tạo ra niềm vui giống như khi chúng ta ăn socola, khi yêu hoặc khi sử dụng cocaine. Do đó, não bộ luôn thúc đẩy sử dụng các MXH, điều này giải thích một phần tại sao một số người sử dụng phương tiên truyền thông xã hội trở nên lo lắng và chán nản khi họ ngừng sử dụng chúng, nghiên cứu cũng chỉ ra một số ảnh hưởng tích cực khi sử dụng MXH là tăng kỹ năng tư duy phê phán, giúp việc học tiếng anh dễ dàng hơn do việc có thể thực hành trong một môi trường tương tác an toàn, cải thiện các mối quan hệ xã hội và giúp họ có thể hiểu và ghi nhớ tốt hơn. 8-9] Tác giả Alberto Posso cũng nghiên cứu về hành vi sử dụng internet của học sinh 15 tuổi tại Úc và đưa ra kết luận rằng trẻ em tại các nước phát triển đang sử dụng internet cho MXH và chơi trò chơi với tỉ lệ rất cao.
Và việc thường xuyên sử dụng các MXH trực tuyến, ví dụ như Facebook hoặc nhắn tin ảnh hưởng đáng kể đến điểm số các môn toán, đọc và khoa học. Ví dụ như kết quả nghiên cứu chỉ ra các học sinh sử dụng MXH trực tuyến hàng ngày sẽ có số điểm toán thấp hơn khoảng 20 điểm so với các sinh viên không sử dụng hoặc hầu như không sử dụng loại phương tiện truyền xã hội thông này. Hơn nữa, kết quả cho thấy việc càng thường xuyên sử dụng internet cho những hoạt động này, sẽ làm điểm số càng tồi tệ hơn. Ví dụ một sinh viên sử dụng MXH trực tuyến 1 hoặc 2 lần một tháng sẽ có số điểm thấp hơn 8 điểm so với mức điểm trung bình [40, tr.
9 z Một nghiên cứu của các tác giả người Việt cùng sự cộng tác của các tác giả nước ngoài về việc nghiện internet và sự ảnh hưởng trực tiếp liên quan đến sức khỏe của giới trẻ Việt Nam đã chỉ ra rằng, việc nghiện internet ở Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giới tính, tình trạng kinh tế hay các loại nghiện khác, và có 21,2% người tham gia trả lời trong nghiên cứu là người nghiện internet, giới trẻ Việt Nam có tỷ lệ nghiện internet cao nhất so với các quốc gia khác tại Châu Á. Những người nghiện internet có nhiều khả năng bị gặp các vấn đề về tự chăm sóc, khó khăn trong thực hiện thói quen hằng ngày, bị đau, khó chịu và lo âu, trầm cảm hơn và dẫn đến việc làm giảm tâm lý hạnh phúc của thanh niên, người nghiện internet cũng ít hài lòng với cuộc sống hơn, thời gian sử dụng internet kéo dài sẽ dẫn đến suy giảm chức năng và nghiên cứu cũng chỉ ra nghiện internet cũng có hại tương tự như việc nghiện rượu [25, tr. Nghiên cứu của Christopher Irwin và các cộng cự năm 2012 có mục đích là đánh giá nhận thức của sinh viên về việc sử dụng một trang Facebook được chỉ định làm tài nguyên học tập trong các khóa học đại học. Tác giả cho rằng các trang Facebook liên kết với các khóa học đại học sẽ được sử dụng rộng rãi bởi các sinh viên đăng ký, dẫn đến tăng cường sự rương tác và giao tiếp giữa sinh viên, người hướng dẫn khóa học và các tài nguyên học tập liên quan.
Kết quả là chỉ một nửa sinh viên chỉ ra rằng trang Facebook họ sử dụng có hiệu quả với việc học của họ, nhưng dù vậy phần lớn sinh viên vẫn đề nghị sử dụng Facebook cho các khóa học tương lai của họ, qua đó các tác giả đã đưa ra một kết luận rằng các nhà giáo dục đại học có thể hưởng lợi từ việc nhận ra giá trị vốn có trong việc kết hợp các trải nghiệm học tập truyền thống với những kinh nghiệm được nâng cao bởi các công nghệ mới như Facebook, sử dụng công nghệ này giúp sinh viên dễ tiếp cận nội dung và linh hoạt hơn với sinh viên [29, tr. Trong nghiên cứu của D. Chiristopher Brook và Jeffrey pomerantz năm 2017 về các sinh viên với công nghệ thông tin và cách thức sử dụng các công nghệ phục vụ cho giáo dục.