mở đầu quá trình cơ giới hóa sản xuất. Ngành luyện kim cũng có những bước tiến lớn để đáp ứng nhu cầu chế tạo máy móc. Năm 1784, Henry Cort đã tìm ra cách luyện sắt "puddling" (khuấy luyện), năm 1885, Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép. Các phát minh này đã đáp ứng được về yêu cầu cao về số lượng và chất lượng thép cho quá trình công nghiệp hóa.
19 Cách mạng cũng diễn ra trong ngành giao thông vận tải để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Năm 1814, đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước đã ra đời. Đến năm 1829, vận tốc xe lửa đã đạt tới 14 dặm/giờ. Đồng thời, vào năm 1807, Robert Fulton đã chế tạo ra tàu thủy chạy bằng hơi nước.
Các phát minh, sáng chế này đã làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở châu Âu và Mỹ, thương mại được mở rộng với sự phát triển của đường sắt và đưởng thủy. Sự phát triển các máy công cụ trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XIX đã tạo thuận lợi cho sự phát triển lĩnh vực chế tạo máy, phục vụ cho những ngành sản xuất khác. Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Về kinh tế, các thành tựu khoa học - kỹ thuật đã thúc đẩy quá trình xóa bỏ nền sản xuất nhỏ phong kiến, mở đường cho sản xuất hàng hóa phát triển. Trước cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất (1820) tốc độ tăng GDP bình quân của thế giới từ đầu công nguyên đến năm 1000 chỉ khoảng 0,01%, từ năm 1000 đến 1820 là 0,22% nhưng từ năm 1820 đến 1898 tốc độ tăng trưởng là 2,21%, cao hơn từ 10 đến 20 lần.
Karl Marx và Friedrich Engels nhận xét rằng: “Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất và trào lưu văn minh” [26, Tr 602.] Nền sản xuất cơ khí hóa đã làm thay đổi bộ mặt các nước tư bản, nhiều trung tâm công nghiệp mới và thành thị đông dân ra đời. Karl Marx và Friedrich Engels đã nhận xét: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [26, Tr 602. Nền kinh tế nông nghiệp truyền thống dần bị xóa bỏ bởi sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và thương mại. Cuộc cách mạng này đã tạo ra cơ 20 sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa tư bản và khẳng định sự thắng lợi của nó với chế độ phong kiến.
Sự phát triển của sản xuất xã hội đã kéo theo sự biến đổi của quan hệ sản xuất, “giai cấp tư sản ngày càng xoá bỏ tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất, về tài sản và về dân cư. Nó tụ tập dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất, và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít người. Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về chính trị” [26, Tr 597]. Về xã hội - chính trị: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã dẫn đến hình thành hai giai cấp cơ bản của xã hội tư bản - giai cấp tư sản công nghiệp và vô sản công nghiệp.
Karl Marx và Friedrich Engels chỉ rõ: “bản thân giai cấp tư sản hiện đại cũng là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài, của một loạt các cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất và trao đổi” [26, Tr 602]. Sự tăng cường bóc lột công nhân của giai cấp tư sản làm trầm trọng thêm mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản của xã hội và làm cho cuộc đấu tranh giữa vô sản với tư sản không ngày càng quyết liệt. Ngay từ khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra, tác động của nó đến việc làm đã trở nên gay gắt. Máy móc được đưa vào sử dụng ngày càng phổ biến đã đẩy người lao động vào tình trạng mất việc làm và tạo ra xung đột xã hội sâu sắc.
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Anh nảy sinh sớm nhất vào năm 60 của thế kỷ XVIII (1760) và phát triển mạnh nhất vào những năm 1807, 1808, 1811, 1812 với một cao trào gọi là Ludded. Ngay trong những cuộc đấu tranh đầu tiên, hiện tượng công nhân đập phá máy móc xuất hiện. Phong trào này còn lan rộng cả ở Pháp và Đức, tuy nhiên phong trào công nhân trong thời kỳ đầu còn mang tính tự phát. Sự phát triển của phong trào công nhân có ảnh hưởng to lớn đến sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa xã hội không tưởng mà đỉnh cao là các tư 21 tưởng của Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen.
Các ông đã phê phán sâu sắc chủ nghĩa tư bản và lên tiếng bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, họ đều không thấy được bản chất của chủ nghĩa tư bản, không vạch ra được con đường giải phóng nhân dân lao động và phủ nhận đấu tranh giai cấp. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống áp bức bóc lột của giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi cần phải có một lý luận khoa học hướng dẫn. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng đòi hỏi cấp bách đó.
Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895) đã kế thừa có phê phán những thành tựu khoa học và những giá trị tư tưởng của nhân loại đạt được trước đó, bằng lao động khoa học, sáng tạo, các ông đã phân tích xã hội tư bản, tổng kết thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trên cơ sở đó, xây dựng nên học thuyết cách mạng, khoa học và nhân đạo để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Karl Marx và Friedrich Engels đã chứng minh sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự quá độ sang một xã hội mới không còn chế độ người bóc lột người. Tư tưởng của Karl Marx và Friedrich Engels trong tác phẩm Tuyên ngôn Đảng cộng sản (2/1848) đã hình thành nên cơ sở của Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Sự phát triển của phong trào công nhân quốc tế chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác, giai cấp công nhân trở thành lực lượng chính trị độc lập với sự thành lập Quốc tế thứ I năm 1864. Về giáo dục: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, với thay đổi từ sản xuất chân tay đến sản xuất cơ khí do phát minh ra động cơ hơi nước. Chính những thay đổi về chính trị - xã hội này đã ảnh hưởng đến giáo dục. Thời 22 điểm đó, giáo dục được đặc trưng bởi sự chuyển kiến thức từ Thầy sang Trò.
Người dạy học là trung tâm, kiến thức truyền thụ trực tiếp từ Thầy sang Trò chủ yếu bằng cách đọc – chép. Cách mạng công nghiệp lần thứ hai (Cách mạng công nghiệp 2.0) Cuộc cách mạng công nghiệp lần hai (hay còn gọi là cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ II) diễn ra vào cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX.[21] Cuộc cách mạng lần này được chuẩn bị bằng quá trình phát triển hàng trăm năm của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở của nền sản xuất đại cơ khí và sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Nội dung cơ bản của cách mạng công nghiệp lần thứ hai: Nội dung của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai là chuyển nền sản xuất cơ khí sang nền sản xuất điện - cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa cục bộ trong sản xuất. Việc phát minh và sử dụng phổ biến điện lực, một dạng năng lượng mới là tiền đề cho sự ra đời các thiết bị điều khiển tự động và được xem là bộ phận thứ tư của hệ thống máy móc, cho phép sản xuất tập trung quy mô lớn để thỏa mãn nhu cầu to lớn của sản xuất và đời sống.
Với những thành tựu to lớn của khoa học tự nhiên, các nhà khoa học cũng tìm ra những nguồn năng lượng mới hết sức phong phú và vô tận như năng lượng nguyên tử, năng lượng gió, năng lượng mặt trời,. trong đó năng lượng nguyên tử ngày càng được phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai cũng đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc trong giao thông vận tải và thông tin liên lạc với sự ra đời máy bay siêu âm khổng lồ, tàu hỏa tốc độ cao và những phương tiện thông tin liên lạc, phát sóng vô tuyến qua hệ thống vệ tinh nhân tạo. Nhờ đó, con người đã đạt được những kỳ tích trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ, phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất và đặt chân lên mặt trăng.
23 Các phát minh về công cụ sản xuất mới như: máy tính, máy tự động và hệ thống máy tự động, người máy, hệ điều khiển tự động đã tạo ra làn sóng tự động hóa sản xuất. Nhiều loại vật liệu mới như chất polymer có độ bền và sức chịu nhiệt cao, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và trong các ngành công nghiệp. Đồng thời, cơ cấu ngành nghề của thời đại điện lực đã có sự biến đổi căn bản với sự ra đời những ngành mới có tính khoa học, biến khoa học trở thành một ngành lao động đặc biệt. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp với những tiến bộ nhảy vọt trong cơ khí hóa, thủy lợi hóa, phương pháp lai tạo giống, chống sâu bệnh… giúp nhiều nước có thể khắc phục nạn thiếu lương thực, đói ăn kéo dài.
Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai: Về kinh tế: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển vượt bậc trên cơ sở ứng dụng các thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật. Tốc độ tăng GDP bình quân của thế giới từ 1950 đến 1973 là 4,91%, cao gấp hơn hai lần so với thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.[20] Vị trí, cơ cấu các ngành sản xuất có sự thay đổi căn bản. Sự xuất hiện các vùng, các ngành công nghiệp mới dẫn đến xu hướng tăng lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm dần lao động trong ngành nông nghiệp. Nhờ sản xuất hàng loạt và áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều, có giá thành rẻ hơn, bền hơn, tốt hơn, …làm cho đời sống con người được cải thiện.