Nghiên cứu tác động của kiến thức kỹ thuật số đến kết quả học tập của sinh viên

Tài liệu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường tác động của kiến thức kỹ thuật số đến kết quả học tập của, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đề tài nghiên cứu khoa học

2022

84
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. MỤC LỤC

1.1. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2. Phương pháp nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa nghiên cứu

1.5. Cấu trúc báo cáo của nghiên cứu

1.6. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

2.1. Đặt vấn đề

2.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.5. Ý nghĩa nghiên cứu

2.6. Cấu trúc báo cáo của nghiên cứu

2.7. Tóm tắt chương 1

3. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

3.1. Tổng quan cơ sở lý thuyết

3.2. Kiến thức số

3.3. Các lý thuyết liên quan đến kiến thức số trong học tập

3.4. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

3.4.1. Tầm quan trọng của kiến thức số với việc làm

3.4.2. Mối quan hệ giữa kiến thức số và năng lực số

3.4.3. Mối quan hệ giữa kiến thức số và kết quả học tập

3.5. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

3.6. Ý nghĩa của mô hình

3.7. Tóm tắt chương 2

4. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

4.1. Mẫu và quy trình nghiên cứu

4.2. Biến kiểm soát

4.3. Phương pháp phân tích

4.4. Tóm tắt chương 3

5. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

5.1. Mô tả mẫu

5.2. Kiểm định thang đo

5.3. Kiểm định độ phân biệt của thang đo

5.4. Phân tích nhân tố khám phá

5.5. Phân tích nhân tố khẳng định

5.6. Tác động của kiến thức số đến các kết quả của sinh viên

5.7. Kiểm tra sự khác biệt về kiến thức số giữa các nhóm sinh viên

5.8. Tóm tắt chương 4

5.9. Hàm ý chính sách

5.10. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

DANH SÁCH CHUYÊN GIA

MỘT SỐ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

Tóm tắt

I. Tác động của kiến thức kỹ thuật số đến kết quả học tập sinh viên

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động của kiến thức kỹ thuật số đến kết quả học tập của sinh viên. Trong bối cảnh học tập trực tuyến gia tăng do đại dịch Covid-19, việc hiểu rõ về kiến thức kỹ thuật số là vô cùng cần thiết. Nghiên cứu đã xác định rằng kiến thức kỹ thuật số không chỉ ảnh hưởng đến khả năng học tập mà còn có thể tác động đến kết quả học tập của sinh viên thông qua các yếu tố như công nghệ thông tin, phương pháp học, và kỹ năng số. Đặc biệt, việc sử dụng công nghệ thông tin trong học tập đã trở thành một yếu tố quyết định trong việc nâng cao hiệu quả học tập. Một nghiên cứu cho thấy, sinh viên có kiến thức kỹ thuật số cao thường đạt được điểm số trung bình tốt hơn so với những sinh viên khác.

1.3. Đánh giá kết quả học tập

Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Kết quả học tập được đo lường thông qua điểm số trung bìnhnăng lực số. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên có kiến thức kỹ thuật số cao thường có điểm số tốt hơn. Việc sử dụng các công cụ đánh giá hiện đại cũng giúp cải thiện khả năng đánh giá và phản hồi cho sinh viên. Các nhà nghiên cứu khuyến nghị rằng các trường đại học nên áp dụng các phương pháp đánh giá đa dạng để phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tinkiến thức số.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã tóm lược các nội dung cơ bản của đề tài nghiên cứu nhằm chỉ rõ tầm quan trọng của nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp và đối tượng nghiên cứu của đề tài này. Trong chương này, nội dung tóm lược về mô hình và phương pháp thu thập số liệu cũng được trình bày. Bố cục của báo cáo đề tài nghiên cứu cũng được giới thiệu tóm tắt ở phần cuối của chương để người đọc có thể thuận tiện theo dõi các nội dung ở các phần sau. 11 Kiến thức số và kết quả học tập của sinh viên CHƯƠNG 2.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 giới thiệu tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này giới thiệu các khái niệm về kiến thức số, năng lực số. Chương này cũng trình bày cơ sở xây dựng thang đo cho kiến thức số và kiến thức số. Dựa trên cơ sở lý thuyết, tác giả đề xuất thang đo cho nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với đối tượng sinh viên ở Việt Nam, cụ thể là ở thành phố Hồ Chí Minh.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết 2.1 Kiến thức số Khái niệm kiến thức số được hiểu là việc lựa chọn, sử dụng và đánh giá các thông số liên quan đến việc sử dụng các phương tiện truyền thông và thông tin, hợp tác nghiên cứu và tạo thành mạng lưới để tạo ra và truyền thông kiến thức cũng như để hình thành các “công dân số”.

Thú vị là ngày nay nhiều người vẫn cho rằng những kỹ năng số (digital skills) là bẩm sinh, phần lớn các kỹ năng này được hình thành từ nhu cầu và phong cách học nên những người sở hữu kỹ năng kỹ thuật số được gọi là “người bản địa số”. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những người “bản địa số” thường đánh giá cao kỹ năng kỹ thuật số ở việc có tác động nhanh chóng đến cuộc sống cá nhân hơn là đóng góp của chúng vào hiệu quả của việc học (Kennedy, Judd, Churchward, Gray, & Krause, 2008; Ladbrook & Probert, 2011). Bên cạnh đó, có nhiều học giả cho rằng DL cần thiết cho việc thành công ở tương lai (Chase & Laufenberg, 2011). Thực tế là vẫn còn nhiều người thiếu những kỹ năng cơ bản như kỹ năng tìm kiếm trên Internet mặc dù họ sống trong thời đại phụ thuộc vào mạng trực tuyến rất nhiều (Marupova & Garcia, 2007).

Về cơ bản, kiến thức số số thường được định nghĩa là sự kết hợp của các kiến thức 12 Kiến thức số và kết quả học tập của sinh viên kỹ thuật, nhận thức và xã hội. “Kiến thức kỹ thuật số là Khả năng hiểu và sử dụng thông tin ở nhiều định dạng từ nhiều nguồn khác nhau khi nó được trình bày qua máy tính… Đó là nhận thức về những gì bạn nhìn thấy trên màn hình máy tính khi bạn sử dụng phương tiện nối mạng. Nó đòi hỏi bạn phải luôn hiện diện, mặc dù ít hiển thị hơn, trên các phương tiện truyền thông tương tự như báo chí và TV. Đồng thời, nó gợi ra một loạt thách thức mới đòi hỏi bạn phải tiếp cận các máy tính nối mạng mà không có định kiến từ trước.

Bạn không chỉ phải có kỹ năng tìm kiếm đối tượng, bạn còn phải có khả năng sử dụng những thứ này trong cuộc sống của mình (Gilster, 1997, trang 1-2). Theo (Bawden, 2001, trang 246-247) thì kiến thức số có thể hiểu là hiểu biết để sử dụng máy tính và các thiết bị công nghệ khác, làm quen với Internet và các phương tiện truyền thông xã hội. Tuy nhiên, kiến thức số cũng có những cấp độ cao hơn của nó chẳng hạn như khả năng có thể tạo nội dung, quản lý dữ liệu, truyền thông và giao tiếp, cũng như trách nhiệm đạo đức và xã hội của người học trong môi trường trực tuyến đó chính là tính hai mặt (lợi và hại) của Internet và việc dùng Internet. Nhiều nghiên cứu tìm cách làm rõ những khía cạnh của DL như theo European DigCompEdU thì hiểu biết kỹ thuật gồm 6 khía cạnh là (1) Cam kết nghề nghiệp, (2) Nguồn của nguồn lực kỹ thuật số, (3) Dạy và học, (4) Đánh giá và chiến lược đánh giá, (5) Trao quyền cho người học, (6) Cung cấp phương tiện cho người học.

Theo UK JISC (Joint Information System Committee) thì kiến thức số gồm 6 thành phần có thể bị chồng lấp lên nhau là (1) Thành thạo ICT, (2) Thông tin, (3) Sáng tạo kỹ thuật số, (4) Truyền thông và hợp tác kỹ thuật số, (6) Học tập và phát triển kỹ thuật số, (7) Định danh và quản lý kỹ thuật số. Nghiên cứu này áp dụng quan điểm của Ng (2012) về kiến thức số là mô hình gồm 3 khía cạnh là nhận thức (ví dụ lựa chọn, tìm kiếm, và đánh giá thông tin), kỹ thuật (hiểu biết về kỹ thuật) và cảm xúc xã hội (hỗ trợ các cộng đồng trực tuyến, chống lại những tác hại của kỹ thuật số,…). Những khía cạnh này được mô tả rõ ràng hơn bên dưới. Yếu tố đầu tiên là trình độ thông tin được xem như khả năng có thể theo dõi, tập hợp nguồn thông tin, tổng hợp và phân tích thông tin, đánh giá độ tin cậy của thông tin, sử dụng các trích dẫn một cách có đạo đức và đúng luật và truy vấn thông tin một cách hiệu quả và đúng (Covello, 2010).

Kế đến là trình độ về phương tiện kỹ thuật được mô tả là khả năng sử dụng máy 13 Kiến thức số và kết quả học tập của sinh viên tính và các phần mềm để thực hành (Martin & Grudziecki, 2006). Kỹ năng này bao gồm khả năng sử dụng thành thạo máy tính bàn, laptop và những phương tiện khác. Khả năng sử dụng phần mềm Microsoft Office và những phần mềm khác cũng được liệt kê vào kỹ năng này. Khả năng sử dụng máy tính để tự học, để tra cứu thông tin từ internet để hỗ trợ cho việc học cũng như sử dụng những công cụ giao tiếp giữa sinh viên và giảng viên cũng được xem là một phần của sự hiểu biết về mặt kỹ thuật.

Trình độ về phương tiện truyền thông – tập hợp các kỹ năng truy cập, phân tích và đánh giá cũng như chuyển đổi thông tin thành nhiều định dạng kể cả bản in và không in cho những mục đích nhất định. Kỹ năng này được mô tả như hiểu biết về phương tiện truyền thông và lợi ích của nó kèm theo khả năng sử dụng hiệu quả và tránh những ảnh hưởng tiêu cực từ việc truyền thông trong học tập. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, đó là trình độ đọc, diễn giải và hiểu thông tin được trình bày dưới dạng trực quan, cũng như khả năng chuyển đổi thông tin thành hình ảnh, bản vẽ hoặc các định dạng khác nhằm mục đích truyền tải thông tin. Theo Stokes (2002) thì đó là tập hợp các khả năng cho phép phân biệt và giải thích các hành động, đồ vật và biểu tượng trong tự nhiên hoặc vật thể nhân tạo.

Có thể nói, kiến thức số trong nghiên cứu này được hiểu là tập hợp những thành phần quan trọng trong các khái niệm nêu trên để có một góc nhìn toàn diện nhất về kiến thức số của sinh viên. Cụ thể trong nghiên cứu này, kiến thức số được đo lường ở bốn phương diện bao gồm hiểu biết và sử dụng thông tin, hiểu và sử dụng các thiết bị công nghệ và máy tính, hiểu và sử dụng các phương tiện truyền thông và cuối cùng là hiểu và sử dụng các hình ảnh. Các góc độ đo lường được đặt trong bối cảnh đo lường là môi trường học tập bậc đại học tại các trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.2 Các lý thuyết liên quan đến kiến thức số trong học tập Chưa có một mô hình lý thuyết đầy đủ và duy nhất về việc ứng dụng công nghệ số vào việc học tập và tác động của kiến thức số tới năng lực của người học, tuy nhiên chúng ta có thể tham khảo một số khung lý thuyết sau đây để thấy được tầm quan trọng của kiến thức số và công nghệ số nói chung tới việc học tập và phát triển năng lực của người học. Mô hình RAT 14 Kiến thức số và kết quả học tập của sinh viên Mô hình RAT là một cách nhìn về công nghệ theo cách so sánh giữa tình huống có sự xuất hiện của công nghệ và không có sự xuất hiện của công nghệ trong việc dạy và học (Vidal và cộng sự, 2022).

Cụ thể, “R” là viết tắt của sự thay thế (Replacement), trong mô hình này thì R biểu hiện cho một sự thay đổi về công nghệ trong quá trình dạy và học, trong đó không thay đổi nội dung và hình thức cũng như bối cảnh học tập mà chỉ thay thế một công nghệ khác. Chữ “A” là sự khuếch đại (amplification), ám chỉ khi các phương pháp giảng dạy trên lớp vẫn như cũ nhưng việc sử dụng công nghệ sẽ làm tăng hiệu quả và hiệu quả hoặc phạm vi tiếp cận của bài học. Chữ “T” là sự chuyển đổi (transformation) và là khi công nghệ được sử dụng để phát minh lại các khía cạnh nhất định của hướng dẫn theo những cách mới và sáng tạo. Mô hình SAMR Mô hình SAMR là viết tắt của sự thay thế (Substitution), nâng cấp (Augmentation), sửa đổi (Modification) và xác định lại (Redefinition) và xem xét bốn cấp độ triển khai công nghệ (Falloon, 2020).

Các nhà giáo dục thường có xu hướng tập trung vào hai cấp độ đầu tiên, về cơ bản chuyển đổi các phương pháp giảng dạy trước đây thành một định dạng công nghệ: ví dụ, ghi âm bài giảng và đăng nó trực tuyến hoặc đăng tải các tệp PDF của các tài liệu đã in trước đó. Hai cấp thứ hai đòi hỏi việc sử dụng công nghệ để thay đổi cơ bản hơn về hướng dẫn. Mô hình TPACK TPACK là viết tắt của kiến thức về công nghệ (Technological), giáo dục (Pedagogical) và nội dung (Content) (Mishra & Koehler, 2006). Khung kiểm tra sự tác động lẫn nhau của ba lĩnh vực được nhóm lại là nội dung kiến thức (CK), giáo dục (PK) và công nghệ (TK), đồng thời khám phá cách các lĩnh vực này giao nhau.

Mặc dù mô hình này được đem ra so sánh với SAMR nhưng đây là những mô hình khá khác biệt và khắc phục một số hạn chế của SAMR. Mô hình TPACK là một cách suy nghĩ ít tuyến tính hơn về việc kết hợp công nghệ vào giảng dạy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tác động của kiến thức kỹ thuật số đến kết quả học tập của sinh viên" của tác giả Phạm Hương Diên, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Thị Anh Thy tại Trường Đại Học Ngân Hàng Tp. Hồ Chí Minh, khám phá mối liên hệ giữa kiến thức kỹ thuật số và hiệu quả học tập của sinh viên. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc nắm vững kỹ năng công nghệ thông tin không chỉ giúp sinh viên tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn mà còn nâng cao khả năng học tập và thành tích học tập. Điều này mang lại lợi ích lớn cho các sinh viên trong môi trường học tập hiện đại, nơi mà công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc của sinh viên công nghệ thông tin tại Đà Nẵng, nơi cũng đề cập đến vai trò của công nghệ thông tin trong sự nghiệp của sinh viên. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ về quản lý giáo dục và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở huyện Phong Điền, TP Cần Thơ sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng công nghệ trong giáo dục. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ về phát triển năng lực tư duy cho học sinh trong dạy học sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng tư duy trong bối cảnh giáo dục hiện đại.