PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta đã tạo ra những cơ hội đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có giáo dục. Khoa học công nghệ phát triển đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, tư duy sáng tạo và có khả năng giải quyết các vấn đề trong thực tiễn….Để nguồn lao động hiện tại và tương lai đáp ứng được những yêu cầu mới thì ngành giáo dục cần được nâng cao hơn nữa chất lượng.
Nghị quyết số 29 - NQ/TW đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo “…Chuyển mạnh từ quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn,…”, đặc biệt là vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và phát triển năng lực số cho học sinh (HS). Việc ứng dụng CNTT vào dạy học trong những năm gần đây đã dần thay đổi phương pháp dạy học từ truyền thống sang tích cực, giúp người dạy và người học phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo, chủ động và đạt hiệu quả cao trong dạy học. Từ mô hình lớp học tập trung dần chuyển sang các mô hình dạy học trực tuyến, sử dụng công nghệ thông tin - truyền thông (CNTT-TT) để hỗ trợ các hoạt động giảng dạy, học tập.
Qua đó, người học có thể tiếp cận tri thức mọi nơi, mọi lúc, có thể chủ động trong việc học tập và ứng dụng kiến thực vào thực tiễn. Sự bùng nổ về công nghệ giáo dục đã, đang và sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người. Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” trong đó giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số thứ 2 sau lĩnh vực Y tế. Trước bối cảnh đó và để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển năng lực số ở tất cả các bộ môn, trong đó có môn Địa lí.
Đây là tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta tiến tới việc việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học. Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ đồng nghiệp tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, năng lực của HS…chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn luyện kỹ năng tự học, sáng tạo, giải quyết tình huống trong thực tiễn…chưa thật sự đạt hiệu quả cao.
Việc ứng dụng CNTT-TT trong dạy học còn nhiều hạn chế từ cả giáo viên (GV) và HS. Chương trình Địa lí trung học phổ thông (THPT) không chỉ giúp HS nắm rõ đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của thế giới, khu vực, quốc gia trong đó có Việt Nam mà còn rèn luyện cho HS những kĩ năng hành động, ứng xử thích hợp với môi trường tự nhiên, xã hội, xác định được trách nhiệm và nghĩa vụ của bản 1 skkn thân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Là một trong những môn học khoa học ứng dụng, đòi hỏi HS phải được phát triển toàn diện các năng lực trong đó có năng lực ứng dụng CNTT để đáp ứng yêu cầu mới hiện nay. Do vậy sử dụng các phương pháp dạy học gắn với việc ứng dụng CNTT-TT để giảng dạy các bài học, các chủ đề là rất thích hợp và cần thiết.
Với mong muốn góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí phù hợp với xu thế giáo dục hiện đại, đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển năng lực học sinh, chúng tôi đã tiến hành chọn đề tài: "Phát triển năng lực số cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học Địa lí theo hướng chuyển đổi số". Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. - Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về vấn đề chuyển đổi số và phát triển năng lực số cho HS. - Xác định được địa chỉ tích hợp phát triển năng lực số và kĩ năng chuyển đổi số cho HS qua các bài học trong chương trình Địa lí lớp 11 và 12.
- Thiết kế dạy học các bài học minh họa trong chương trình Địa lí lớp 11 và lớp 12 theo hướng chuyển đổi số. - Thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả về phát triển năng lực số cho HS thông qua việc tổ chức dạy học theo hướng chuyển đổi số cho HS Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng và THPT Lê Viết Thuật, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. - Phân tích thực trạng dạy học và nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học hiện nay. - Phân tích được khả năng của HS và GV trong ứng dụng chuyển đổi số trong tổ chức dạy học nói chung và môn Địa lí nói riêng.
- Tổng quan những vấn đề lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh hiện nay. Từ đó vận dụng tổ chức dạy học theo hướng chuyển đổi số nhằm phát triển năng lực số cho HS lớp 11 và lớp 12. - Xác định được địa chỉ tích hợp chuyển đổi số trong chương trình Địa lí lớp 11 và lớp 12 nhằm phát triển năng lực số cho HS. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. - Học sinh lớp 11, 12 học tập theo chương trình Địa lí THPT - Ban cơ bản. - Học sinh lớp 11 năm học 2020-2021 và lớp 12 năm học 2021-2022 Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, THPT Lê Viết Thuật, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2020-2021 và năm học 2021-2022.
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài đã sử dụng các phương pháp: - Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu: Nguồn tài liệu được sử dụng có thể gồm các dạng: các văn bản Nghị định, Nghị quyết; các tài liệu tập huấn chuyên môn của Bộ giáo dục và đào tạo; các tài liệu, một số trang báo điện tử về giáo dục về ứng dụng phát triển năng lực số trong dạy học, sách giáo khoa Địa lí lớp 11 và 12.nhằm thu thập thông tin, số liệu liên quan phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. - Phương pháp điều tra, khảo sát: Tiến hành khảo sát GV và HS lớp 11 khi bắt đầu nghiên cứu về thực trạng, nhu cầu ứng dụng ICT và cũng đối tượng đó khi học lớp 12 về hiệu quả của việc ứng dụng ICT trong dạy học môn Địa lí để xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng chuyển đổi số nhằm phát huy năng lực số cho HS. Đây là cơ sở quan trọng để rút ra kết luận về tính hiệu quả của đề tài nghiên cứu. - Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Trên cơ sở những số liệu đã thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu phục vụ mục đích nghiên cứu thực trạng ứng dụng chuyển đổi số để từ đó áp dụng hiệu quả vào việc xác định địa chỉ lồng ghép chuyển đổi số trong chương trình Địa lí lớp 11, 12.
Sản phẩm của việc xử lý này được phân tích, tổng hợp hay hệ thống hóa bằng bảng số liệu, biểu đồ. - Phương pháp quan sát: Trong quá trình thực hiện đề tài, GV trực tiếp quan sát quá trình HS học tập tại lớp để tìm hiểu thái độ, hứng thú, tính tích cực, kĩ năng giải quyết vấn đề của HS để từ đó rút ra được ưu khuyết điểm mà phương pháp đang áp dụng, trên cơ sở đó điều chỉnh để đạt được kết quả như đề tài mong muốn. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Để khẳng định kết quả của đề tài chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số lớp. Ở các lớp thực nghiệm chúng tôi tiến hành dạy học theo phương pháp hướng đến phát triển năng lực số cho HS, từ đó khẳng định tính hiệu quả của đề tài.
Những đóng góp mới của đề tài. - Xây dựng được địa chỉ tích hợp chuyển đổi số và kĩ năng chuyển đổi số cho HS qua các bài học trong chương trình Địa lí 11 và 12, vận dụng qui trình vào thực tế dạy học để đánh giá được hiệu quả đề tài. - Phân tích thực trạng việc dạy học và nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học hiện nay, cũng như phân tích được khả năng của HS và GV trong ứng dụng chuyển đổi số trong tổ chức dạy học nói chung và môn Địa lí. - Xây dựng kế hoạch phát triển năng lực số cho HS của trường THPT Huỳnh Thúc Kháng và THPT Lê Viết Thuật phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, cũng như khả năng về ICT của GV và HS.
- Tổ chức dạy học theo hướng chuyển đổi số nhằm phát triển năng lực số cho HS THPT thông qua chương trình Địa lí lớp 11 và 12 góp phần đổi mới phương pháp dạy học, đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông tổng thể theo định hướng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực người học. 3 skkn PHẦN NỘI DUNG 1. Khái niệm năng lực số. Đã có nhiều khái niệm được sử dụng khi đề cập đến phát triển năng lực số ở các quốc gia và tổ chức quốc tế.
Mỗi khái niệm mang một nghĩa riêng để phù hợp với mục tiêu cụ thể của các nước, các tổ chức. Tuy nhiên, chúng đều hướng đến một mục tiêu chung là phát triển các kĩ năng tìm kiếm, đánh giá, quản lý được thông tin; giao tiếp, hợp tác, giải quyết các vấn đề an toàn, hiệu quả. Từ đó giúp mọi người có thể thành công trên môi trường số. Theo UNESCO (2018), khái niệm năng lực công nghệ số là: khả năng tiếp cận, quản lý, hiểu, tích hợp, giao tiếp, đánh giá và tạo thông tin một cách an toàn và hợp lý thông qua công nghệ kỹ thuật số phục vụ cho việc làm và lập nghiệp.
Năng lực công nghệ số bao gồm các năng lực khác nhau liên quan đến kĩ năng CNTT-TT, kiến thức thông tin và truyền thông.