Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học theo mô hình Flipped Classroom và năng lực tự học của học sinh Chương 2. Xây dựng tiến trình dạy học chương “Chất khí” – Vật lí 10 theo mô hình Flipped Classroom nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh Chương 3. Thực nghiệm sư phạm KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 9.
Những đóng góp của luận văn - Xây dựng được 4 tiến trình dạy học chương “Chất khí” theo mô hình FC, cụ thể là các bài: + Cấu tạo chất. Thuyết động học phân tử chất khí. + Quá trình đẳng nhiệt. Định luật Boyle – Mariotte.
+ Quá trình đẳng tích. Định luật Charles. + Phương trình trạng thái khí lý tưởng. - Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về mô hình dạy học FC, về phát triển năng lực của học sinh, đặc biệt là năng lực tự học.
- Tạo cơ sở để đề xuất, vận dụng phương pháp dạy học hiện đại nói chung và phương pháp dạy học theo mô hình FC nói riêng vào nhà trường phổ thông nhằm phát triển các năng lực của học sinh. - Bổ sung vào nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên, học viên có nghiên cứu đề tài liên quan. Luan van 5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH FLIPPED CLASSROOM VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH Dạy học theo mô hình Flipped Classroom Mô hình dạy học Flipped Classroom Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 cũng như sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho việc đổi mới cách dạy – học truyền thống, thụ động sang cách dạy – học hiện đại, tích cực. FC – Lớp học đảo ngược là một trong những mô hình giáo dục tiên tiến dựa trên sự phát triển của công nghệ e-Learning; là một mô hình dạy học kết hợp, được áp dụng khá phổ biến và phát triển tại nhiều quốc gia.
Theo định nghĩa của Flipped Learning Network, các chữ cái đầu trong thuật ngữ F-L-I-P là những yếu tố hình thành nên mô hình FC – lớp học đảo ngược (Flipped Learning Network (FLN), 2014), bao gồm: - F - FLEXIBLE ENVIRONMENT (môi trường linh hoạt): Giáo viên (GV) đưa bài giảng lên mạng, học sinh (HS) có thể chủ động chọn thời gian và địa điểm phù hợp để học. Mặt khác, GV có thể tận dụng thời gian ở trên lớp để tổ chức cho HS hoạt động nhóm hoặc nghiên cứu các chủ đề chuyên sâu hơn. - L - LEARNING CULTURE (văn hóa học tập): Ở mô hình dạy học truyền thống, GV là trung tâm của mọi nguồn thông tin. Ngược lại, mô hình FC lại lấy người học làm trung tâm.
HS có thể tích cực, chủ động trong việc tìm kiếm, xây dựng tri thức. Từ đó, HS hiểu sâu hơn, rộng hơn về các kiến thức mà bài học đề cập. - I - INTENTIONAL CONTENT (nội dung có chủ ý): GV tự quyết định, lựa chọn học liệu phù hợp cho các đối tượng HS của mình. Qua đó, GV có thể tối ưu hóa thời gian trên lớp học để phát huy ưu việt nhất tính tích cực, chủ động của HS theo đúng phương châm lấy người học làm trung tâm.
- P - PROFESSIONAL EDUCATOR (chuyên gia giáo dục): GV đóng vai trò rất quan trọng trong mô hình FC. Họ phải liên tục quan sát, đánh giá, hỗ trợ, phản hồi kịp thời trong suốt quá trình học tập trên lớp. GV phải tạo được kết nối với từng cá nhân HS, bao quát và kiểm soát được mọi hoạt động trong lớp học theo chủ đích của Luan van 6 mình. Ở mô hình này, mặc dù GV ít nổi bật hơn HS, song vẫn đóng trò thiết yếu để mô hình được vận hành một cách tốt nhất.
Như vậy, ở mô hình FC, hoạt động dạy – học được chia làm hai phần chính: Ngoài lớp học và trong lớp học. Học sinh xem các bài giảng ở nhà qua mạng. Giờ học ở lớp không diễn ra một chiều theo kiểu truyền thống “thầy giảng – trò nghe”, mà sẽ có sự tương tác hai chiều giữa thầy và trò. HS tham gia các hoạt động nhóm, thực hiện các nhiệm vụ, dự án mà GV đề ra.
giúp củng cố, mở rộng các kiến thức đã tìm hiểu ở nhà. Đồng thời, giúp bồi dưỡng, rèn luyện, phát triển các năng lực quan trọng như năng lực tự học, năng lực hợp tác. Mặt khác, GV có thời gian tìm hiểu tiến độ học tập của từng cá nhân HS mà kịp thời trao đổi, giải đáp thắc mắc, sửa chữa sai lầm, hỗ trợ và giúp đỡ HS nắm vững kiến thức theo khả năng tiếp thu riêng. Các công trình nghiên cứu về mô hình dạy học Flipped Classroom Trên thế giới Năm 1998, Walvoord và Anderson đề xuất sử dụng các hình thức như đọc và tóm tắt tài liệu về bài học mới, trả lời câu hỏi, hoặc hoàn thành phiếu bài tập để kiểm tra sự hiểu của người học nhằm đem lại hiệu quả học tập và kích thích việc học tập chủ động của học sinh (Barbara Walvoord & Virginia Johnson Anderson, 1998).
Từ đó phương thức này được phát triển thành mô hình “Lớp học đảo ngược” được ứng dụng trong dạy học tại các trường phổ thông và đại học ở Mỹ (Brinkley, 2012). Các nghiên cứu của Bergmann, Sams và Smith đều chỉ ra rằng mức độ tham gia và tương tác của HS cao hơn, hiệu quả học tập cũng tốt hơn đặc biệt đối với HS có học lực yếu. HS được tạo cơ hội để trình bày ý tưởng; đặt câu hỏi; làm rõ những thắc mắc, quan niệm sai lầm (Bergmann & Sams, 2012), (Smith, 2013). Các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến một số điểm hạn chế của hình thức dạy học này: các HS không có máy tính kết nối Internet rất khó khăn trong các hoạt động nhóm, hoạt động tương tác trên lớp, dẫn đến kết quả học tập giảm.
Ngoài ra, HS dành nhiều thời gian làm việc trên máy tính có thể ảnh hưởng đến sức khỏe; việc chuẩn bị các học liệu, bài giảng video có thể mất nhiều thời gian của GV. Đồng thời, đòi hỏi GV phải có kĩ năng sử dụng các chương trình dựng phim, ghi âm,…(Hamdan & McKnight, 2013). Luan van 7 Mặt khác, theo nghiên cứu của Guy và Marquis kết luận rằng: việc ứng dụng mô hình FC có tác động tích cực đến việc học tập của HS, cụ thể là điểm số của HS ở lớp học đảo ngược đạt cao hơn các HS ở lớp học truyền thống. HS chủ động, tích cực hơn trong quá trình học tập (Guy & Marquis, 2016).
Như vậy, hầu hết các tác giả đều cho rằng: dạy học theo mô hình FC đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho việc học tập, tạo điều kiện cá nhân hóa trong quá trình học tập của HS. Qua đó, bồi dưỡng các năng lực cho HS, đặc biệt là năng lực tự học. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, mô hình FC chỉ mới được biết đến trong vài năm gần đây. Tuy vậy, nó lại được đánh giá là mô hình hỗ trợ hiệu quả cho hướng dạy học lấy người học làm trung tâm, cải thiện tính thụ động của HS trong học tập, giúp bồi dưỡng các năng lực cho HS.
Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu xã hội (Nguyễn Chính, 2016). Theo tác giả Hoàng Giang Quỳnh Anh, có 3 bước để đảo ngược lớp học bao gồm: tạo 1 video, chia sẻ với HS và sử dụng thời gian học tập khác nhau (Hoàng Giang Quỳnh Anh, 2014). Tác giả Phạm Anh Đới thì cho rằng mô hình FC gồm 4 giai đoạn cơ bản là trải nghiệm cuốn hút, khám phá khái niệm, tạo ra ý nghĩa, trình diễn và áp dụng (Phạm Anh Đới, 2014). Tác giả Nguyễn Thế Dũng đã đưa ra quy trình tổ chức dạy học theo mô hình FC phần lập trình theo tiếp cận quy trình phát triển phần mềm trên môi trường B-learning nhằm nâng cao năng lực của người học (Nguyễn Thế Dũng, 2016).
Trong kết quả nghiên cứu về khả năng ứng dụng mô hình FC trong dạy học chuyên đề kĩ thuật số: hai tác giả Nguyễn Quốc Vũ và Lê Thị Minh Thanh đã kết luận “Lớp học đảo ngược” có thể được xem như một mô hình tổ chức lớp học trong dạy học kết hợp, không chỉ tạo hứng thú học tập, nâng cao kết quả học tập của SV mà còn giúp SV phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực phát hiện - giải quyết vấn đề và năng lực sử dụng CNTT và truyền thông (Nguyễn Quốc Vũ & Lê Thị Minh Thanh, 2017). Ngoài ra, còn có rất nhiều bài báo, bài viết tạp chí cũng như các luận văn, luận án đề cập đến mô hình dạy học FC: Lê Thị Phượng và Bùi Phương Anh với bài viết Luan van 8 “Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh”; “Lớp học nghịch đảo – mô hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến” của Nguyễn Văn Lợi; “Mô hình lớp học đảo trình trong bồi dưỡng kỹ năng CNTT cho sinh viên sư phạm” của Nguyễn Hoài Nam và Vũ Thái Giang; luận án “Xây dựng và sử dụng E-learning vào dạy học các kiến thức hạt nhân nguyên tử Vật lí 12 THPT theo mô hình lớp học đảo ngược” của Trương Thị Phương Chi; luận văn “Tổ chức dạy học chương “Cân bằng của vật rắn” – Vật lí 10 THPT theo hình thức lớp học đảo ngược nhằm bồi dưỡng năng lực hợp tác của học sinh” của Kiên Thị Bích Trâm. Ưu, nhược điểm của mô hình Flipped Classroom Ưu điểm Mô hình FC có những ưu điểm sau: - HS hoàn toàn chủ động trong việc học. Họ có thể học bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu, có thể tạm dừng, xem lại nhiều lần những phần kiến thức chưa hiểu.
- HS có nhiều thời gian hơn để trao đổi, thảo luận, tham gia các hoạt động trên lớp cùng với bạn bè, thầy cô. - HS có nhiều cơ hội học tập hơn, nguồn học liệu phong phú hơn (từ sách báo, mạng Internet, bạn bè, GV…) - Tăng sự tương tác giữa HS với bạn bè, GV. - HS có ý thức, trách nhiệm hơn với việc học của mình. - Những HS vắng mặt trên lớp, hoặc những HS tiếp thu chậm được hỗ trợ tối đa nhờ nguồn học liệu được lưu trữ trực tuyến.
- GV có thời gian tìm hiểu tiến độ học tập của từng HS để hỗ trợ kịp thời. Nhược điểm Mô hình FC cũng tồn tại một số hạn chế: - Mỗi HS có điều kiện vật chất khác nhau, không phải HS nào cũng có máy tính kết nối mạng để học trực tuyến. - HS phải có trình độ nhất định về công nghệ thông tin (CNTT) để có thể tham gia lớp học trực tuyến.