CHƯƠNG 1. Tình trạng dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng của trẻ em mẫu giáo và tiểu học 1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em mẫu giáo và tiểu học 1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trên thế giới a.
Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em trên thế giới Suy dinh dưỡng đặc biệt là SDD thấp còi hiện nay vẫn đang là gánh nặng dẫn tới bệnh tật và tử vong ở trẻ em trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển thuộc khu vực Châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á… Theo số liệu thống kê từ năm 2010-2016 của UNICEF/WHO/World Bank Group [6] thì tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em (TE) dưới 5 tuổi toàn cầu đã giảm từ 26,3% năm 2010 xuống 22,9% năm 2016 (Biểu đồ 1. Tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới (2010-2016) Ở khu vực Châu Đại Dương, mặc dù tỷ lệ SDD thấp còi là khá cao nhưng tỷ lệ này không những không giảm mà còn tăng với tốc độ 0,1%/năm, từ 37,7% luan an 4 năm 2010 tăng lên 38,3% và năm 2016. Tốc độ giảm SDD thấp còi ở khu vực Châu Phi là 0,4-0,5%/năm và thấp hơn 0,2-0,5% so với khu vực Châu Á. Điều này thể hiện mức độ cải thiện TTDD của người dân ở khu vực này là chậm.
Tỷ lệ SDD thấp còi của toàn Châu Phi chỉ giảm từ 33,9% năm 2010 xuống 33,2% vào năm 2016. Tỷ lệ SDD thấp còi của Châu Mỹ Latin và Caribe là thấp nhất trong 4 châu lục, và cũng có tốc độ giảm 0,4-0,5%/năm, từ 13,4% năm 2010 xuống còn 11% vào năm 2016 (Biểu đồ 1. Tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển (2010-2016) Xu hướng giảm SDD thể thấp còi của Châu Á: Nam Á là nơi có tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất trong khu vực Châu Á, nhưng tỷ lệ này đã giảm mạnh (0,9- 1,0%/năm) từ 39,7% năm 2010 xuống còn 34,1% vào năm 2016. Tốc độ giảm SDD thấp còi trong giai đoạn 2010-2016 ở Trung Á là 0,7-0,9%/năm, Đông Nam Á là 0,7-0,8%/năm, Đông Á là 0,5-0,7%/năm và Tây Á là 0,4-0,5%/năm (Biểu đồ 1.
luan an 5 Biểu đồ 1. Tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi tại Châu Á (2010-2016) Biểu đồ 1.3 cho thấy có sự khác biệt về tốc độ giảm SDD giữa Nam Trung Á và Đông Nam Á. Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở Nam Trung Á rất cao, ước tính là 43,7% năm 2000, đã giảm khoảng 8,6% trong khoảng thời gian từ 1980 đến 2000. Số lượng TE bị SDD thể thấp còi đã giảm khoảng 6,2 triệu trẻ trong hơn 1 thập kỷ qua, tuy nhiên mức giảm này ít hơn so với chu kỳ từ năm 2000 đến 2008.
Nhìn chung, SDD thể thấp còi ở Nam Trung Á khá phổ biến nhưng đã có xu hướng cải thiện rất đáng kể trong 3 thập kỷ qua [7]. Năm 2000, ước tính ở vùng Đông Nam Châu Á có khoảng 32,8% trẻ bị SDD thể thấp còi với khoảng 19 triệu trẻ. Mức giảm ở vùng này ước tính khoảng 0,98%/năm, giảm khoảng 20% trong thời kỳ từ năm 1980 đến 2000, từ 52,4% xuống 32,8%. Nếu mức giảm này tiếp tục duy trì đến năm 2008, số lượng trẻ SDD thể thấp còi sẽ giảm khoảng 3 triệu trẻ [7].
Tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ em trên thế giới Thừa cân, béo phì đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng trên toàn cầu. Trong những năm gần đây, tình trạng thừa cân, béo phì của TE có xu hướng gia tăng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tỷ lệ thừa cân của trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển (2010-2016) Tỷ lệ thừa cân ở TE dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển ngày càng tăng.4 cho thấy Châu Đại Dương có tỷ lệ TE dưới 5 tuổi thừa cân cao nhất, từ 7,6% năm 2010 tăng lên 9,6% vào năm 2016, tốc độ thừa cân tăng 0,3- 0,4%/năm. Châu Phi, Châu Mỹ Latin và Caribe có tỷ lệ thừa cân ở TE dưới 5 tuổi ổn định, chỉ tăng 0,1% trong giai đoạn 2010-2016; Châu Phi từ 5,1% năm 2010 lên 5,2% năm 2016, Châu Mỹ Latin và Caribe từ 6,9% năm 2010 lên 7,0% năm 2016.
Tỷ lệ thừa cân ở TE dưới 5 tuổi tại Châu Á tăng đều 0,1% trong giai đoạn 2010-2014, từ 4,8% năm 2010 lên 5,2% năm 2014, và giữ ổn định ở mức 5,2% đến năm 2016. luan an 7 Biểu đồ 1. Tỷ lệ thừa cân ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Châu Á (2000-2016) Biểu đồ 1.5 cho thấy Trung Á có tỷ lệ TE dưới 5 tuổi thừa cân cao nhất và tốc độ thừa cân tăng 0,1-0,2%/năm, từ 9,9% năm 2010 tăng lên 10,7% vào năm 2016. Nam Á có tỷ lệ TE dưới 5 tuổi bị thừa cân thấp nhất, nhưng vẫn tiếp tục tăng với tốc độ 0,1-0,2%/năm, từ 3,7% năm 2010 lên 4,4% năm 2016.
Đông Nam Á có tốc độ thừa cân ở TE dưới 5 tuổi tăng nhanh (0,3-0,4%/năm), từ 5,3% năm 2010 lên 7,2% năm 2016. Tây Á có tốc độ thừa cân tăng đều 0,1%/năm. Tuy nhiên, tình trạng thừa cân ở TE dưới 5 tuổi được kiểm soát khá tốt tại Đông Á, từ 5,6% năm 2010 giảm xuống 5,5% năm 2012, 5,4% năm 2013, còn 5,3% năm 2015, 2016. Hiện nay, thừa cân, béo phì ở TE đã trở thành vấn đề sức khỏe ưu tiên thứ hai trong việc phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là một trong những thách thức hàng đầu đối với ngành dinh dưỡng và y tế.
luan an 8 Năm 2012, theo thống kê của Trung tâm Phòng chống và kiểm soát bệnh tật (CDC) của Mỹ thì tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 2-5 tuổi là 8,4%, trẻ 6-11 tuổi là 17,7%, trẻ 12-19 tuổi là 20,5% [8]. Theo điều tra khảo sát về sức khỏe của Anh năm 2012, tỷ lệ thừa cân, béo phì của TE 2-15 tuổi là 27,9% [9]. Ở Úc, năm 1985, tỷ lệ thừa cân, béo phì của TE 2-18 tuổi là 10,2% ở trẻ trai và 11,6% ở trẻ gái. Tỷ lệ này đã tăng lên đến 23,7% ở trẻ trai và 24,8% ở trẻ gái vào năm 2008 [10].
Ở Nhật, tỷ lệ thừa cân, béo phì của TE 6-14 tuổi trong vòng 25 năm (1976-2000) đã tăng từ 6,1% lên 11,1% ở trẻ trai và 7,1% lên 10,2% ở trẻ gái [11]. Tại Trung Quốc, sau 20 năm (1985- 2005) tỷ lệ thừa cân, béo phì của TE 8-18 tuổi đã tăng từ 2% lên 14% ở trẻ trai và từ 1% lên 9% ở trẻ gái [12]. Ở Thái Lan, theo Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2004 thì tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 6-14 tuổi là 5,4%, trẻ 15-18 tuổi là 12,9%, đặc biệt tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 6-14 tuổi của thủ đô Bangkok là 15% [13]. Năm 2006, theo kết quả điều tra của Văn phòng thống kê quốc gia và UNICEF thì tỷ lệ thừa cân, béo phì của TE lứa tuổi tiền học đường của Thái Lan là 6,9% [1].
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam a. Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam Biểu đồ 1.6 cho thấy SDD thể nhẹ cân ở Việt Nam đã giảm liên tục, giảm khá nhanh và bền vững từ mức 17,5% vào năm 2010 xuống còn 15,3% năm 2013 và 13,8% vào năm 2016. Trung bình, mỗi năm Việt Nam giảm được hơn 0,6% [14]. luan an 9 Biểu đồ 1.
Diễn biến SDD ở trẻ em Việt Nam 2000-2016 Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở TE dưới 5 tuổi đã giảm từ 59,7% năm 1985 xuống 53,4% năm 1990 và 36,5% năm 2000, đến năm 2005 tỷ lệ SDD thể thấp còi là 29,6%.6 cho thấy tỷ lệ SDD thể thấp còi là 29,3% năm 2010 giảm còn 25,9% vào năm 2013 và 24,3% vào năm 2016. Tuy nhiên, giảm SDD thể thấp còi là một thách thức, khó hơn rất nhiều so với giảm SDD thể nhẹ cân [15]. Ngoài ra tỷ lệ SDD thấp còi ở Việt Nam cũng có sự khác biệt khá lớn giữa các vùng sinh thái, nhóm dân tộc, mức thu nhập kinh tế của hộ gia đình. Tình hình SDD thấp còi của TE tiểu học cũng đang là vấn đề sức khỏe, cộng đồng của TE Việt Nam.
Kết quả điều tra trên 450 trẻ 7-8 tuổi tại 3 trường tiểu học của tỉnh Bắc Ninh (năm 2005) cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi rất cao - 32-40%. Kết quả điều tra TTDD tại 6 tỉnh/thành phố của Việt Nam năm 2011 cho thấy tỷ lệ thấp còi của TE lứa tuổi 6-9 tuổi là 13,7% và ở lứa tuổi 9-11 tuổi là 18,2% [14]. Tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ em Việt Nam Kết quả điều tra 450 trẻ 7-8 tuổi tại 3 trường tiểu học của tỉnh Bắc Ninh (năm 2005) cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi là 32-40% [14]. Kết quả điều tra TTDD luan an 10 tại 6 tỉnh/thành phố của Việt Nam năm 2011 cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi của TE lứa tuổi 6-9 tuổi là 13,7% và ở lứa tuổi 9-11 tuổi là 18,2%.
Ở nước ta, thừa cân, béo phì cũng đang tăng nhanh và trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng. Kết quả của Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2000 cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi là 1,1% (năm 1999), 2,7% (năm 2000) và đến năm 2014 tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi là 4,8% trên phạm vi toàn quốc [58]. Năm 2015, tỷ lệ thừa cân ở TE dưới 5 tuổi của thành phố Hồ Chí Minh là cao nhất chiếm 10,8%, tiếp theo là tỉnh Bình Dương (9,6%), thành phố Đà Nẵng (9,1%), tỉnh Bến Tre (8,6%), Khánh Hòa (8,5%), Quảng Ninh (7,9%). Một số tỉnh, thành phố khác như Hà Nam, Thừa Thiên - Huế, Hà Nội, Đồng Nai, Tây Ninh và Long An có tỷ lệ TE dưới 5 tuổi bị thừa cân dao động trong khoảng từ 4,9-7,2% [17].
Tỷ lệ thừa cân ở trẻ dưới 5 tuổi của một số tỉnh thành năm 2015 luan an 11 Năm 2015, tỷ lệ béo phì ở TE dưới 5 tuổi của thành phố Hồ Chí Minh là cao nhất chiếm 4,5%, tiếp theo là thành phố Đà Nẵng (3,8%), tỉnh Bến Tre (3,6%), Bình Dương (3,4%). Một số tỉnh thành khác như Hà Nam, Hà Nội, Thừa Thiên - Huế, Quảng Ninh, Đồng Nai, Tây Ninh, Khánh Hòa và Long An có tỷ lệ TE dưới 5 tuổi bị béo phì dao động trong khoảng từ 0,9-2,6%. Tỷ lệ béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi của một số tỉnh thành năm 2015 Tình hình thừa cân, béo phì của trẻ 5-19 tuổi cũng rất đáng quan tâm.