ĐẶT VẤN ĐỀ Thiếu dinh dưỡng ở trẻ em hay thường được gọi là suy dinh dưỡng (SDD) vẫn đang còn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. SDD thường bắt đầu xuất hiện sau 4 - 5 tháng và tăng nhanh từ 6 - 24 tháng tuổi và đặc biệt là SDD tích lũy với tỷ lệ rất cao trong vòng 2 - 3 năm đầu đời (25 - 36 tháng tuổi). Nguyên nhân SDD trẻ em thường do thiếu ăn, ăn uống không hợp lý và bệnh tật. Các vi chất dinh dưỡng, vitamin và chất khoáng (vitamin A, C, E, kẽm, sắt, selen) đã được biết đến với chức năng tham gia vào quá trình miễn dịch, vào các chức năng chuyển hóa ở mức phân tử và tế bào của hệ thống miễn dịch.
Bổ sung các chất dinh dưỡng này vào khẩu phần ăn thiếu hụt làm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể, cải thiện sức đề kháng với các bệnh nhiễm trùng [1], [2], [3]. Ngoài các vi chất dinh dưỡng, gần đây hệ vi khuẩn đường ruột cũng được nhiều nghiên cứu đề cập đến có vai trò rất quan trọng giúp duy trì sự ổn định nội môi của cơ thể và tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng tốt. Tuy nhiên, trẻ suy dinh dưỡng thường kèm theo rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột, tăng các đợt tiêu chảy cấp tính,cũng như các bệnh rối loạn mãn tính kéo dài và kéo theo sự thay đổi quan trọng của hệ miễn dịch tại đường tiêu hóa [4]. Giới khoa học chú ý nhiều tới khả năng của một vài loại vi khuẩn đường ruột sinh acid lactic, còn được gọi là probiotic, có tác dụng có lợi đến cân bằng hệ vi khuẩn chí đường ruột [5], [6], [7], [8].
Trong số các vi khuẩn này phải kể đến Lactobacilli và Bifidobacteria, chúng là một phần của hệ vi khuẩn đường ruột và đã được tiêu thụ bởi con người từ các sản phẩm sữa khác nhau. Một số giống probiotics này đã được sử dụng thành công để cải thiện kết quả của các bệnh dạ dày ruột, đặc biệt là tiêu chảy [9], [10], [11], [12]. Ngoài tác dụng điều hòa hệ vi khuẩn chí trong ruột, một số bằng chứng cho thấy probiotics còn có khả năng điều chỉnh hệ thống miễn dịch tại một số cơ quan khác nhau của cơ thể. Theo cách ấy, chúng cải thiện cơ cấu hàng rào miễn dịch và/ hoặc có thể giúp cơ thể điều chỉnh lại các rối loạn của hệ miễn dịch như dị ứng hoặc viêm ruột ở cả trẻ sơ sinh và người lớn [13].
2 Một biện pháp giúp cải thiện hệ vi khuẩn đường ruột ở người và hoạt động chuyển hoá của chúng là sử dụng một số carbohydrate có khả năng thúc đẩy sự phát triển của các vi khuẩn có ích (chủ yếu là Bifidobacteria) trong đường ruột. Các carbohydrate này được gọi là “prebiotics”, là thành phần của thức ăn không tiêu hoá được, có tác dụng kích thích chọn lọc lên sự phát triển và hoạt động của các vi khuẩn có lợi cho sức khoẻ như Bifidobacteria trong đại tràng của người [14]. Trong nhóm các prebiotics, Inulin và Oligofructose (FOS) nằm trong số những “prebiotics” được sử dụng nhiều nhất, chúng là những thành phần thức ăn tự nhiên có trong các loại cây trồng (rau diếp, tỏi, lúa mì). Một câu hỏi được đặt ra là việc đưa thêm vi khuẩn có lợi (probiotics) kết hợp với prebiotics trong thức ăn cho trẻ có tốt hơn là đưa một thứ đơn thuần? Để trả lời câu hỏi này, với hy vọng tạo ra nhiều sản phẩm có tác dụng giống như sữa mẹ, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về các loại sản phẩm sữa cho trẻ có bổ sung probiotic kết hợp hoặc không kết hợp với prebiotic [11], [15], [16].
Sự kết hợp prebiotics và probiotics được gọi là Synbiotics [17] với ý nghĩa ám chỉ tác dụng hiệp đồng của hai loại kết hợp. Tác dụng hiệp đồng này chỉ đạt được khi một mặt tiêu thụ lactobacilli, mặt khác thúc đẩy bifidobacteria trong ruột phát triển. Ngày càng có nhiều nghiên cứu các loại sữa dùng cho trẻ em có bổ sung probiotics có kết hợp bổ sung hoặc không bổ sung prebiotics với hy vọng tạo ra nhiều tác dụng có lợi cho sức khỏe. Gần đây, một nghiên cứu về ảnh hưởng của sữa công thức (Nestle Gấu 1+) được bổ sung prebiotics (prebio-1) ở trẻ 24 - 36 tháng tuổi đã được thực hiện [18].
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các trẻ được uống sữa này trong 6 tháng đã tăng cân nặng và chiều cao hơn nhóm uống sữa không được bổ sung prebiotics. Ảnh hưởng có ích lên tình trạng dinh dưỡng, kết hợp giảm tỷ lệ tiêu chảy và táo bón được quan sát thấy ở nhóm trẻ uống sữa có bổ sung prebiotics. Trên cơ sở của sản phẩm bổ sung prebiotics, một thử nghiệm lâm sàng nhằm đánh giá ảnh hưởng của sữa có bổ sung các vitamin và khoáng chất kết hợp với prebiotics (prebio-1), probiotics (Lactobacillus và Bifidobacterium) cũng được thực hiện trên trẻ 18 - 36 tháng tuổi ở 2 trường mầm non tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy hiệu quả hỗ trợ tình trạng dinh dưỡng và có thể cải thiện hàng rào 3 miễn dịch chống nhiễm khuẩn.
Một chỉ tiêu tốt giúp đánh giá hiệu quả của sữa đến tình trạng miễn dịch là nồng độ IgA trong máu [19]. Tuy nhiên, nghiên cứu có hạn chế là mới chỉ được thực hiện trên một cỡ mẫu nhỏ ở 2 trường mầm non và chưa đánh mức IgA trong phân, một chỉ tiêu phản ánh trực tiếp hàng rào miễn dịch tại chỗ. Do đó vấn đề đặt ra là việc nuôi dưỡng trẻ bằng sữa có bổ sung kết hợp prebiotic (prebio 1), và 2 loại vi sinh vật khác nhau (L.paracasei ST 11 và B.Longum BB 536) có cải thiện tốt hơn lên các chỉ tiêu nhân trắc, vi chất dinh dưỡng và tình trạng miễn dịch (đặc biệt là nồng độ IgA trong phân và trong máu) của trẻ nhỏ, tình trạng tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp hơn là bổ sung một thứ đơn thuần hay không? Vì những lý do trên, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu “Hiệu quả của bổ sung sản phẩm dinh dưỡng có probiotic, prebiotic đến tình trạng miễn dịch, nhiễm khuẩn, dinh dưỡng ở trẻ em 25 - 36 tháng tuổi” trên một quần thể đại diện hơn (14 nhà trẻ) và theo các tiêu chuẩn chặt chẽ hơn trong 5 tháng để đánh giá thêm tác động có lợi của việc nuôi dưỡng bằng sản phẩm sữa có bổ sung prebiotic (prebio 1) và 2 loại vi sinh vật khác nhau (L.paracasei ST 11 và B.Longum BB 536) lên các chỉ tiêu nhân trắc, vi chất dinh dưỡng và tình trạng miễn dịch, đặc biệt là nồng độ IgA trong phân trong máu, trong phân và tình trạng bệnh tật (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp) của trẻ 25 - 36 tháng tuổi. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1.
Đánh giá hiệu quả của sản phẩm dinh dưỡng có bổ sung prebiotic và probiotics (Synbiotic) đến sự thay đổi chỉ số nhân trắc của trẻ 25 - 36 tháng tuổi; 2. Đánh giá hiệu quả của sản phẩm dinh dưỡng có bổ sung Synbiotics đến sự thay đổi các chỉ số Hemoglobin máu, vitamin A và kẽm huyết thanh của trẻ 25 - 36 tháng tuổi; 3. Đánh giá hiệu quả của sản phẩm dinh dưỡng có bổ sung Synbiotics đến tình trạng IgA trong máu, trong phân, tình trạng bệnh tật (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp) của trẻ 25 - 36 tháng tuổi. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam và trên thế giới 1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ. Tùy theo sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà suy dinh dưỡng biểu hiện các thể, các hình thái khác nhau [20].
Suy dinh dưỡng vẫn đang còn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam. Theo kết quả điều tra về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, tỉ lệ trẻ em SDD thể nhẹ cân ở Việt Nam tuy đã giảm nhưng vẫn ở mức cao, năm 2012 là 16,2%, năm 2013 là 15,3%, 14,5% năm 2014 và 14,1% năm 2015 đối với thể nhẹ cân, tuy nhiên tỷ lệ SDD thấp còi chung toàn quốc vẫn ở mức 26,7% năm 2012, 25,9% năm 2013, 24,9 % năm 2014 và 24,6% năm 2015 (biểu đồ 1. Đến năm 2015, tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân là thấp 14,1%, giảm đi không đáng kể so với năm 2014 (0,4%) nhưng SDD thể thấp còi vẫn còn 24,6% (chỉ giảm được 0,3%) xếp vào hàng các quốc gia có tỷ lệ thấp còi cao, theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Số liệu thống kê về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi Việt Nam 2008 - 2015 (Cập nhật ngày: 06/10/2016) Phân bố SDD theo khu vực: Phân bố SDD ở nước ta không đồng đều giữa các vùng sinh thái.
Ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ SDD cao hơn hẳn vùng đồng bằng. Trong khu vực đồng bằng thì SDD nông thôn cũng cao hơn ở thành thị. Tỷ lệ SDD cao nhất ở vùng Tây Nguyên (22,6% SDD nhẹ cân và 34,9% SDD thấp còi). Ở vùng Đông Nam Bộ, tỷ lệ SDD thấp hơn so với các vùng khác (8,4% SDD nhẹ cân và 18,3% SDD thấp còi), thấp nhất trong các vùng sinh thái của cả nước.
Riêng tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi, cao nhất là ở vùng Tây Nguyên (34,9%), Trung du và miền núi phía Bắc (30,7%); suy dinh dưỡng nói chung thấp nhất ở vùng đồng bằng Sông Hồng (20,3%) và vùng Đông Nam Bộ (18,3%) [21]. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng theo nhóm tháng tuổi Phân bố SDD theo nhóm tháng tuổi: Tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi thấp nhất đối với cả 3 thể (nhẹ cân, thấp còi và gầy còm), sau đó tăng dần. Trẻ 6 - 24 tháng, là thời kỳ có nguy cơ bị SDD cao nhất. SDD thể nhẹ cân tăng nhanh trong năm đầu tiên, tiếp tục tãng trong năm thứ 2 và đạt tỷ lệ cao nhất lúc trẻ được 36 - 41 tháng tuổi.
SDD thấp còi xuất hiện sớm ngay trong 6 tháng tuổi đầu tiên, tăng nhanh từ tháng 6 - 23 tháng. Theo số liệu của Viện Dinh Dưỡng và UNICEF về tình hình dinh dưỡng Việt Nam năm 2009 - 2010, tỷ lệ SDD nhẹ cân và SDD thấp còi của trẻ tăng dần theo độ tuổi.