Luận án tiến sĩ về thừa cân béo phì và thói quen dinh dưỡng ở trẻ mầm non

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu thực trạng thừa cân béo phì và một số đặc điểm gen thói quen dinh dưỡng hoạt động thể, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Dinh Dưỡng

Tác giả

Đỗ Nam Khánh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

177
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Định nghĩa và phân loại thừa cân, béo phì

1.2. Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em thế giới và tại Việt Nam

1.3. Các phương pháp đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em

1.4. Hậu quả của thừa cân, béo phì ở trẻ em

1.5. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến thừa cân, béo phì ở trẻ em

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Phương pháp và ngưỡng tiêu chí đánh giá thừa cân, béo phì bằng các chỉ số nhân trắc

2.5. Sai số và khống chế sai số

2.6. Phân tích và xử lý số liệu

2.7. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở trẻ mầm non Hà Nội

3.2. Một số yếu tố gia đình liên quan đến thừa cân, béo phì của trẻ mầm non Hà Nội

3.3. Kiểu gen một số SNP ở gen ADRB3, FTO, MC4R và phân tích một số yếu tố nguy cơ của môi trường và kiểu gen ảnh hưởng đến béo phì ở trẻ mầm non Hà Nội

3.4. Phân tích đa biến các yếu tố ảnh hưởng đến béo phì ở trẻ mầm non Hà Nội trong nghiên cứu bệnh-chứng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng TC, BP và các yếu tố liên quan ở trẻ em mầm non Hà Nội

4.2. Đặc điểm kiểu gen và alen của SNP rs9939609 gen FTO, rs12970134 gen MC4R, rs4994 gen ADRB3 của trẻ em mầm non Hà Nội trong nghiên cứu bệnh chứng

4.3. Phân tích đa biến ảnh hưởng của các yếu tố đến béo phì ở nhóm bệnh và nhóm chứng của trẻ mầm non Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng thừa cân béo phì ở trẻ mầm non

Thực trạng thừa cânbéo phì ở trẻ mầm non tại Hà Nội đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Theo số liệu từ các cuộc điều tra, tỷ lệ trẻ béo phì đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Cụ thể, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em dưới 5 tuổi đã đạt 5,6%, trong đó tỷ lệ béo phì là 2,8%. Tại các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ này còn cao hơn, với khoảng 41% trẻ em bị thừa cânbéo phì. Những con số này cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của tình trạng thừa cânbéo phì ở trẻ em, đặc biệt là trong bối cảnh đô thị hóa và thay đổi lối sống. Hệ quả của tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động tiêu cực đến tâm lý và sự phát triển của trẻ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), béo phì ở trẻ em có thể dẫn đến các bệnh mạn tính như tiểu đường, bệnh tim mạch và các vấn đề tâm lý như tự ti, kém hòa đồng.

1.1. Nguyên nhân dẫn đến thừa cân béo phì

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thừa cânbéo phì ở trẻ em bao gồm chế độ dinh dưỡng không hợp lý và thiếu hoạt động thể lực. Nhiều trẻ em hiện nay có thói quen ăn uống không lành mạnh, thường xuyên tiêu thụ thực phẩm chế biến sẵn, đồ ngọt và đồ uống có ga. Bên cạnh đó, việc giảm thiểu hoạt động thể chất do thói quen ngồi nhiều trước màn hình điện tử cũng góp phần làm gia tăng tỷ lệ béo phì. Theo nghiên cứu, trẻ em có thói quen ăn uống không khoa học và ít vận động có nguy cơ cao hơn mắc các vấn đề về dinh dưỡngbéo phì. Việc giáo dục trẻ em về dinh dưỡng hợp lý và khuyến khích hoạt động thể chất là rất cần thiết để phòng ngừa tình trạng này.

II. Yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến tình trạng béo phì

Yếu tố dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tình trạng thừa cânbéo phì ở trẻ em. Chế độ ăn uống không cân bằng, thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết có thể dẫn đến sự tích tụ mỡ thừa trong cơ thể. Nghiên cứu cho thấy, trẻ em tiêu thụ nhiều thực phẩm giàu năng lượng nhưng nghèo dinh dưỡng có nguy cơ cao mắc béo phì. Các yếu tố như thói quen ăn uống, sự ảnh hưởng của gia đình và môi trường sống cũng có tác động lớn đến sự phát triển dinh dưỡng của trẻ. Việc xây dựng một chế độ ăn uống hợp lý, bao gồm nhiều rau xanh, trái cây và thực phẩm giàu chất xơ là rất cần thiết để ngăn ngừa béo phì. Ngoài ra, việc giáo dục phụ huynh về dinh dưỡng cũng là một yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa tình trạng thừa cânbéo phì ở trẻ em.

2.1. Thói quen ăn uống và sự phát triển của trẻ

Thói quen ăn uống của trẻ em có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Trẻ em thường có xu hướng thích ăn những thực phẩm ngọt, béo và chế biến sẵn, điều này dẫn đến việc tiêu thụ quá nhiều calo mà không cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cần thiết. Theo nghiên cứu, trẻ em có thói quen ăn uống không lành mạnh có nguy cơ cao mắc béo phì và các vấn đề sức khỏe khác. Việc hình thành thói quen ăn uống lành mạnh từ nhỏ sẽ giúp trẻ phát triển tốt hơn và giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến dinh dưỡng. Cha mẹ và người chăm sóc cần chú ý đến chế độ ăn uống của trẻ, khuyến khích trẻ ăn nhiều rau củ, trái cây và hạn chế thực phẩm có đường và chất béo bão hòa.

III. Phòng ngừa và can thiệp

Việc phòng ngừa và can thiệp sớm là rất quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng thừa cânbéo phì ở trẻ em. Các chương trình giáo dục về dinh dưỡng và hoạt động thể chất cần được triển khai tại các trường mầm non và cộng đồng. Cha mẹ cần được hướng dẫn về cách xây dựng chế độ ăn uống hợp lý cho trẻ, đồng thời khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động thể chất thường xuyên. Các nghiên cứu cho thấy, việc kết hợp giữa chế độ ăn uống lành mạnh và hoạt động thể chất có thể giúp trẻ duy trì cân nặng hợp lý và phát triển khỏe mạnh. Ngoài ra, việc theo dõi và đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ thường xuyên cũng là một biện pháp quan trọng để phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến thừa cânbéo phì.

3.1. Chương trình giáo dục dinh dưỡng

Chương trình giáo dục về dinh dưỡng cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và nhu cầu của trẻ em. Nội dung chương trình nên bao gồm các kiến thức cơ bản về thực phẩm, lợi ích của việc ăn uống lành mạnh và tầm quan trọng của hoạt động thể chất. Các hoạt động thực hành như nấu ăn, trồng rau và tham gia các trò chơi thể thao cũng nên được khuyến khích để trẻ có thể áp dụng kiến thức vào thực tế. Việc giáo dục dinh dưỡng không chỉ giúp trẻ hiểu rõ hơn về sức khỏe mà còn tạo thói quen ăn uống lành mạnh từ nhỏ, góp phần phòng ngừa béo phì và các vấn đề sức khỏe khác trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và phân loại thừa cân, béo phì 1. Định nghĩa thừa cân, béo phì Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ13,14.

Phân loại thừa cân, béo phì 1. Phân loại béo phì theo sinh bệnh học  Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng.  Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): Là béo phì do các vấn đề bệnh lý gây nên: - Béo phì do nguyên nhân nội tiết. - Béo phì do suy giáp trạng.

- Béo phì do cường vỏ thượng thận. - Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng. - Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng. - Béo phì trong thiểu năng sinh dục.

- Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh. Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo béo phì9,15. Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì - Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): là loại béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ. luan an 4 - Béo phì bắt đầu ở người lớn: là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường.

- Béo phì xuất hiện sớm: là loại béo phì xuất hiện trước 5 tuổi. - Béo phì xuất hiện muộn: là loại béo phì xuất hiện sau 5 tuổi. - Các giai đoạn thường xuất hiện béo phì là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì). Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì trường diễn và các biến chứng khác16.

Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu - Béo bụng: Là dạng béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng. - Béo đùi: Là loại béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi. Phân loại này giúp dự đoán nguy cơ sức khoẻ của béo phì. Béo bụng có nguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng insulin máu, và rối loạn lipid máu hơn so với béo đùi16,17.

Một số cách phân loại khác - Béo phì do sử dụng thuốc: Sử dụng corticoid liều cao và kéo dài, dùng estrogen, deparkin có thể gây béo phì. - Béo có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi: Trẻ béo phì có khối nạc tăng so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo phì từ nhỏ, dạng này đặc trưng cho đa số béo phì ở trẻ em. - Trẻ thừa cân và thừa mỡ, thừa mỡ nhưng không thừa cân (rất ít trẻ thuộc nhóm này) và thừa cân nhưng không thừa mỡ18,19. Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em thế giới và tại Việt Nam 1.

Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em trên thế giới Béo phì được coi là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với y tế công cộng trong thế kỉ XXI với số lượng người béo phì năm 2014 đã cao hơn gấp đôi so với năm 198013. TC, BP là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm2. TC, BP không chỉ là vấn luan an 5 đề sức khỏe cộng đồng ở các quốc gia phát triển mà ngay cả các quốc gia đang phát triển số lượng người béo phì cũng đang tăng nhanh, đặc biệt là ở khu vực thành thị13,. Điều đáng lo ngại là sự gia tăng tỷ lệ béo phì ở trẻ em toàn cầu đang ở mức báo động (Hình 1.

Ước tính đến năm 2030, gần một phần ba dân số thế giới có thể bị TC, BP20. Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ béo phì trên toàn thế giới đã tăng gần gấp ba lần từ năm 1975 đến năm 2016. Năm 2016, ước tính có 41 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì13. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi đã tăng đáng kể từ chỉ 4% năm 1975 lên hơn 18% vào năm 2016.

Sự gia tăng tỉ lệ này đã xảy ra ở cả nam và nữ: năm 2016 18% trẻ em gái và 19 % con trai bị thừa cân. Trong khi chỉ có dưới 1% trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi bị béo phì vào năm 1975, thì có hơn 124 triệu trẻ em và thanh thiếu niên (6% trẻ em gái và 8% trẻ em trai) bị béo phì vào năm 201613. Tính đến năm 2019 có khoảng 38,2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TC, BP, trong số đó có hơn 1 nửa trẻ đang sinh sống ở Châu Á21. Bản đồ tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì của các nước trên thế giới từ năm 2000 đến 2014 (Nguồn: http://www.org/Obesity Sedentary Crisis/Global_Obesity_Charts.htm) luan an 6 TC, BP từng được coi là một vấn đề của quốc gia có thu nhập cao, nhưng tình trạng này đang gia tăng ở cả các nước thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là ở các khu vực thành thị.

Ở Châu Phi, số trẻ em dưới 5 tuổi thừa cân đã tăng gần 50% kể từ năm 2000. Hơn 340 triệu trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi 5 đến 19 bị thừa cân hoặc béo phì trong năm 20162,13. Theo kết quả nghiên cứu được công bố năm 2014, tỷ lệ TC, BP ở trẻ em và trẻ vị thành niên ở các nước phát triển năm 2013 ở nam là 23,8% (22,9-24,7) và ở nữ 22,6% (21,7- 23,6). Tỷ lệ trẻ em và trẻ vị thành niên TC, BP cũng tăng nhanh ở các nước đang phát triển, năm 2013 tỷ lệ ở nam là 12,9% (12,3-13,5) và nữ là 13,4% (13,0-13,9)22.

Theo thống kê tại Mỹ, TC, BP đang là mối quan tâm hàng đầu của ngành y tế và toàn xã hội23. Trong số những trẻ có độ tuổi từ 2 đến 19 tuổi, tỷ lệ TC, BP trong giai đoạn 2011-2014 vào khoảng 17,0% và béo phì mức độ nặng vào khoảng 5,8%. Với đối tượng trẻ từ 2 đến 5 tuổi, tỷ lệ mắc TC, BP tăng từ 7,2% (giai đoạn 1988-1994) lên 13,9% (giai đoạn 2003-2004), sau đó giảm còn 9,4% (giai đoạn 2013-2014). Riêng với đối tượng trẻ từ 6 đến 11 tuổi, tỷ lệ mắc béo phì tăng từ 11,3% (giai đoạn 1988-1994) lên đến 19,6% (giai đoạn 2007-2008) và tỷ lệ này hầu như không thay đổi vào năm 2013-201424.

Tại châu Âu, trong những năm gần đây, tỷ lệ béo phì trẻ em tăng nhanh đáng báo động ở các quốc gia. Năm 2005, theo báo cáo của Tổ chức chuyên trách béo phì quốc tế (IOTF) thì cứ 5 trẻ em thì có 1 trẻ bị thừa cân hay béo phì. Các quốc gia ở vùng Địa Trung hải có tỷ lệ tăng cao nhất: thậm chí có nơi tỷ lệ thừa cân ở trẻ em ngang với ở Mỹ, tới 30%. Các nghiên cứu đã cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của TC, BP: những năm 70, tốc độ tăng trung bình hàng năm là 0,2% thì đến nay là 2% (tương đương với khoảng 400.

Tại Châu Á, tỷ lệ TC, BP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng. Tại Trung Quốc, năm 2018, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em tiểu học và trung học của Trung Quốc là 14, 0% và tỷ lệ béo phì là 10,5%27. Theo nghiên cứu của Yu và cs luan an 7 ở 32862 trẻ em Trung Quốc dưới 5 tuổi cho thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em dưới 5 tuổi ở cả vùng thành thị và nông thôn đều là 8,4%, trong đó tỷ lệ béo phì trẻ nam là 9,4%, béo phì trẻ nữ là 7,2%. Tỷ lệ béo phì theo mức thu nhập gia đình thấp, trung bình, cao lần lượt là 2,8%, 3,3% và 3,5%28.

Ở khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ béo phì ở trẻ em khác nhau rõ rệt giữa các nước. Tại Campuchia, do đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, tốc độ đô thị hóa chưa mạnh nên tỷ lệ béo phì tương đối thấp, Campuchia chưa phải đối mặt với gánh nặng kép dinh dưỡng. Trong nghiên cứu của Horiuchi và cs trên hơn 2000 học sinh từ 6 đến 17 tuổi cho thấy, tỷ lệ TC, BP chỉ 3,1%, trong đó tỷ lệ ở thành thị là 6,4% và nông thôn là 2,3%29. Tại Indonesia, theo nghiên cứu của Rachmi và cs công bố năm 2016 qua các năm 1993, 1997, 2000, 2007, kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ TC, BP tăng từ 10,3% lên 16,5%, các yếu tố của nguy cơ béo phì như trẻ ở độ tuổi 2 đến 2,9, trẻ nam và trẻ có cha mẹ TC, BP.

Bên cạnh đó Indonesia vẫn phải đối mặt với gánh nặng kép dinh dưỡng tương tự như Việt Nam khi tỷ lệ suy dinh dưỡng ở Indonesia năm 1993 là 34,5% và đến năm 2007 giảm còn 21,4%30. Nghiên cứu của Naidu trên 7749 trẻ em từ 7 đến 12 tuổi ở Malaysia cho thấy tỷ lệ béo phì chung là 19,9%, những trẻ nam, những trẻ Malaysia gốc Hoa, những trẻ thành phố có nguy cơ béo phì cao hơn rõ rệt so với các trẻ khác31. Trong 1 nghiên cứu khác ở trẻ béo phì từ 5 đến 9 tuổi ở Malaysia 32 cho thấy 25% trẻ em tiêu thụ thức ăn quá nhu cầu khuyến nghị, trẻ nam tiêu thụ thực phẩm nhiều hơn rõ rệt so với nữ. Trẻ nam cũng tiêu thụ calcium, thiamine, riboflavin, và niacin cao hơn rõ rệt so với trẻ nữ.

Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em tại Việt Nam Tại Việt Nam, tỷ lệ TC, BP ở trẻ em tăng gấp đôi từ 3,3% lên 6,6% trong giai đoạn 2000-2005 và 6,6% lên 12% trong giữa 2005 -2010 và tăng gần gấp rưỡi từ 12% lên 17,5% trong giai đoạn 2010 -2015. Trong vòng 15 năm, tỷ lệ thừa cân trẻ em tăng hơn 4 lần từ 3,3% (2000) lên 17,5% (2015)33. Ở nước ta tỷ lệ trẻ TC, BP ở học sinh tiểu học có xu hướng tăng cao đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. luan an 8 Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ TC, BP ở học sinh có sự gia tăng rất nhanh.

Nghiên cứu năm 2007 ở trường học ở quận 1 có tỷ lệ béo phì là 41,1% và trường ở quận 7 có tỷ lệ béo phì là 10,8%34.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về thừa cân béo phì và thói quen dinh dưỡng ở trẻ mầm non" của tác giả Đỗ Nam Khánh, dưới sự hướng dẫn của GS. Lê Thị Hương và PGS. Trần Quang Bình, được thực hiện tại Trường Đại Học Y Hà Nội vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng thừa cân, béo phì và các đặc điểm gen, thói quen dinh dưỡng, cũng như hoạt động thể lực ở trẻ mầm non. Bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em mà còn đưa ra những khuyến nghị quan trọng nhằm cải thiện sức khỏe và phát triển thể chất cho trẻ.

Để mở rộng thêm kiến thức về giáo dục và dinh dưỡng cho trẻ em, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận Án Tiến Sĩ Về Kỹ Năng Quản Lý Cảm Xúc Của Giáo Viên Mầm Non", nơi nghiên cứu về vai trò của giáo viên trong việc quản lý cảm xúc và ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Bên cạnh đó, "Luận Án Tiến Sĩ Về Kỹ Năng Giao Tiếp Bằng Lời Nói Cho Trẻ 5-6 Tuổi Chậm Phát Triển Ngôn Ngữ" cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ. Cuối cùng, "Luận văn thạc sĩ về quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non quận Long Biên, Hà Nội" sẽ cung cấp thêm thông tin về cách tổ chức hoạt động vui chơi, một phần quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho trẻ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục và dinh dưỡng cho trẻ em.