Tổng quan luận án

Tình trạng thừa cân và béo phì ở trẻ em đang gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng lo ngại tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Béo phì ở lứa tuổi mầm non (dưới 5 tuổi và từ 5 đến 6 tuổi) để lại nhiều hệ lụy lâu dài đối với sức khỏe thể chất như gia tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây (tim mạch, đái tháo đường tuýp 2, rối loạn lipid máu, tổn thương xương khớp) cũng như tác động tiêu cực đến tâm lý phát triển của trẻ. Cơ chế sinh bệnh của béo phì mang tính phức hợp, là kết quả của sự tương tác đa chiều giữa yếu tố di truyền (các biến thể đơn nucleotide - SNP) và các yếu tố môi trường (thói quen ăn uống, khẩu phần dinh dưỡng, mức độ hoạt động thể lực, thời gian tĩnh tại và hành vi gia đình).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung khảo sát tỷ lệ thừa cân, béo phì đơn thuần hoặc đánh giá các yếu tố dịch tễ học xã hội trên học sinh tiểu học và trung học. Các nghiên cứu chuyên sâu về mối liên quan giữa các biến dị di truyền ở cấp độ phân tử (như các gen FTO, MC4R, ADRB3) kết hợp với các yếu tố hành vi, lối sống và môi trường nuôi dưỡng trên nhóm trẻ lứa tuổi mầm non với cỡ mẫu lớn vẫn còn là một khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết. Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Đỗ Nam Khánh (chuyên ngành Dinh dưỡng, mã số: 9720401, bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2020) được triển khai nhằm thực hiện hai mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở trẻ mầm non Hà Nội năm 2019.
  2. Xác định kiểu gen một số đa hình đơn nucleotid ở gen ADRB3, FTO, MC4R và phân tích mối liên quan giữa yếu tố môi trường và kiểu gen với tình trạng béo phì ở trẻ mầm non Hà Nội năm 2019.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em lứa tuổi mầm non theo học tại các trường mầm non công lập; người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại gia đình (cha, mẹ hoặc người giám hộ) và giáo viên mầm non trực tiếp dạy trẻ tại lớp.
  • Phạm vi không gian: 36 trường mầm non công lập đại diện cho 3 vùng sinh thái - xã hội đặc trưng của thành phố Hà Nội: vùng trung tâm nội đô (quận Hoàn Kiếm với 18 trường), vùng ven nội đô (quận Hoàng Mai với 9 trường) và vùng nông thôn ngoại thành (huyện Đông Anh với 9 trường).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 6 năm 2020, trong đó thời điểm thu thập số liệu dịch tễ và sinh học phân tử tập trung trong năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học, nguyên nhân, hậu quả và các phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em.

Về bức tranh dịch tễ học toàn cầu, tác giả dẫn các số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2016, 2019) cho thấy toàn cầu có hơn 41 triệu trẻ dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì vào năm 2016, và đến năm 2019 có khoảng 38,2 triệu trẻ dưới 5 tuổi mắc tình trạng này, trong đó hơn một nửa tập trung tại châu Á. Các công trình của Yu và cộng sự ở Trung Quốc (nghiên cứu trên 32.862 trẻ dưới 5 tuổi), Horiuchi và cộng sự ở Campuchia (trên 2.000 học sinh), Rachmi và cộng sự (2016) ở Indonesia, cũng như Naidu ở Malaysia (trên 7.749 trẻ em) phản ánh sự phân hóa dịch tễ giữa khu vực thành thị và nông thôn, cũng như áp lực của gánh nặng kép dinh dưỡng (vừa suy dinh dưỡng vừa thừa cân, béo phì) tại các nước đang phát triển.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu qua các mốc thời gian được tác giả điểm lại chi tiết:

  • Số liệu Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc của Viện Dinh dưỡng qua các năm 2000, 2009-2010 và 2014-2015 chỉ ra xu hướng gia tăng liên tục của tỷ lệ thừa cân, béo phì, đặc biệt tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Nghiên cứu của Lê Thị Hải (2004) tại 7 quận nội thành Hà Nội ghi nhận tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 7-12 tuổi là 7,2%.
  • Nghiên cứu của Trần Thị Phúc Nguyệt (2006) trên trẻ 4-6 tuổi nội thành Hà Nội ghi nhận tỷ lệ thừa cân là 4,9% và béo phì là 3,1%.
  • Nghiên cứu của Huỳnh Thị Thu Diệu (2007) trên 670 trẻ mầm non Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ thừa cân là 20,5% và béo phì là 16,3%.
  • Nghiên cứu của Trương Tuyết Mai và cộng sự (2012) tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ghi nhận tỷ lệ thừa cân là 21,9% và béo phì là 18,0%.
  • Nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự (2014) tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học đạt 51,8%.
  • Nghiên cứu của Đỗ Minh Loan (2015) trên 2.842 trẻ mầm non tại Đống Đa và Ba Vì cho thấy tỷ lệ thừa cân béo phì là 14,5%.
  • Nghiên cứu theo dõi dọc (2013-2016) trên 2.602 trẻ từ 3-6 tuổi tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ thừa cân béo phì tăng từ 14,2% lên 29,9% ở trẻ nam nội thành.

Về cơ chế di truyền và tương tác gen - môi trường: Tác giả tổng thuật các nghiên cứu GWAS và phân tích gộp quốc tế của Fall và Ingelsson, Zhao và Grant (2011) xác định các biến thể đơn nucleotide liên quan đến béo phì ở trẻ em. Ba gen tiêu biểu được luận án lựa chọn là:

  1. FTO (Fat mass and obesity-associated gene): liên quan đến phản ứng khử methyl acid nucleic, điều hòa cảm giác thèm ăn ở vùng dưới đồi (nghiên cứu của tác giả tại Mỹ, Nhật Bản, Brazil, châu Âu).
  2. MC4R (Melanocortin 4 Receptor): liên quan đến điều hòa cân bằng năng lượng và tín hiệu chán ăn (nghiên cứu của Almeida ở Bồ Đào Nha; nghiên cứu của Lê Thị Tuyết và cộng sự trên học sinh tiểu học tại Việt Nam).
  3. ADRB3 (Beta-3 adrenergic receptor): mã hóa thụ thể phân giải mỡ và sinh nhiệt tại mô mỡ.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn: Chưa có công trình nào tại Việt Nam khảo sát đồng thời thực trạng nhân trắc trên mẫu lớn đại diện cho ba vùng đô thị - nông thôn Hà Nội kết hợp với kỹ thuật sinh học phân tử xác định kiểu gen của 3 đa hình đơn nucleotide (rs9939609 gen FTO, rs12970134 gen MC4R, rs4994 gen ADRB3) và sử dụng các mô hình hồi quy đa biến, mô hình Bayesian Model Averaging (BMA) để phân tích mức độ đóng góp của yếu tố môi trường và gen ở trẻ lứa tuổi mầm non.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và tiêu chuẩn phân loại dinh dưỡng

Luận án dựa trên khung phân tích cân bằng năng lượng và cơ chế bệnh sinh đa nhân tố của béo phì (tương tác giữa tính nhạy cảm di truyền, hành vi tiêu thụ thực phẩm, mức độ tiêu hao năng lượng qua vận động và các yếu tố nhân khẩu - gia đình).

Tiêu chuẩn nhân trắc học áp dụng theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):

  • Đối với trẻ dưới 5 tuổi (< 60 tháng tuổi): Sử dụng chuẩn tăng trưởng WHO 2006, đánh giá qua chỉ số Z-score cân nặng theo chiều cao (WHZ):
    • Thừa cân: WHZ > +2SD đến +3SD.
    • Béo phì: WHZ > +3SD.
    • Bình thường (nhóm chứng): WHZ từ -1SD đến +1SD (loại trừ trẻ tiệm cận suy dinh dưỡng và thừa cân).
  • Đối với trẻ từ 5 tuổi trở lên (≥ 60 tháng tuổi): Sử dụng chuẩn WHO 2007, đánh giá qua chỉ số Z-score BMI theo tuổi (BMI-for-age Z-score):
    • Thừa cân: Z-score > +1SD đến +2SD.
    • Béo phì: Z-score > +2SD.
    • Bình thường (nhóm chứng): Z-score từ -1SD đến giá trị trung bình (Mean).
Nhóm tuổi Chỉ số nhân trắc Thừa cân Béo phì Nhóm chứng (Bình thường chọn vào GĐ 2)
Dưới 5 tuổi (< 60 tháng) Z-score Cân nặng/Chiều cao (WHZ) > +2SD đến ≤ +3SD > +3SD -1SD ≤ WHZ ≤ +1SD
Từ 5 - 6 tuổi (≥ 60 tháng) Z-score BMI theo tuổi > +1SD đến ≤ +2SD > +2SD -1SD ≤ Z-score ≤ Mean

Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

Nghiên cứu được thiết kế theo 2 giai đoạn kế tiếp nhau:

Giai đoạn 1 - Nghiên cứu mô tả cắt ngang:

  • Cỡ mẫu lý thuyết: Tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ quần thể với $p = 0,13$, sai số tương đối $\epsilon = 0,042$, độ tin cậy 95% ($Z = 1,96$), cỡ mẫu tối thiểu là 14.574 trẻ.
  • Thực hiện thực tế: Điều tra 16.550 trẻ; sau khi loại trừ các trường hợp không đủ tiêu chuẩn, thu được mẫu sạch gồm 14.720 trẻ mầm non (4.615 trẻ tại Hoàn Kiếm, 4.871 trẻ tại Hoàng Mai, 5.234 trẻ tại Đông Anh), cùng 14.720 phiếu tự điền của người chăm sóc và 930 giáo viên tại 465 lớp học thuộc 36 trường mầm non.

Giai đoạn 2 - Nghiên cứu bệnh - chứng:

  • Cỡ mẫu lý thuyết: Tính toán bằng phần mềm Quanto (chọn mô hình tương tác gen - môi trường với tỷ lệ bệnh:chứng là 1:2, lực mẫu 0,85, sai số loại I $\alpha = 0,01$), xác định tối thiểu 320 trẻ béo phì và 640 trẻ chứng.
  • Thực hiện thực tế: Lựa chọn 354 trẻ béo phì (nhóm bệnh) và 708 trẻ bình thường (nhóm chứng), ghép cặp theo tiêu chí cùng giới, cùng tháng tuổi và học cùng lớp mầm non.

Phương pháp thu thập dữ liệu và kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử

  1. Thu thập thông tin dịch tễ, khẩu phần và vận động:
    • Bộ câu hỏi tự điền gửi phụ huynh: thông tin cân nặng sơ sinh, tiền sử sinh sản của mẹ, thói quen ăn uống tại nhà, tần suất tiêu thụ thức ăn nhanh, nước ngọt có gas, hành vi ăn đêm, thời gian ngủ đêm.
    • Bộ câu hỏi gửi giáo viên mầm non: đánh giá hành vi ăn uống tại trường (tốc độ ăn, phản ứng với thức ăn) và mức độ tham gia hoạt động thể lực tại lớp.
  2. Kỹ thuật xác định kiểu gen:
    • Lấy mẫu bệnh phẩm: Thu thập tế bào niêm mạc miệng/má bằng tăm bông chuyên dụng.
    • Tách chiết ADN tổng số tại phòng xét nghiệm.
    • Kỹ thuật định kiểu gen đa hình:
      • Đa hình rs12970134 gen MC4R: Sử dụng phương pháp AS-PCR (Allele-Specific PCR) với các cặp mồi đặc hiệu alen.
      • Đa hình rs9939609 gen FTO và rs4994 gen ADRB3: Sử dụng phương pháp RFLP-PCR (Polymerase Chain Reaction - Restriction Fragment Length Polymorphism), ủ với enzyme cắt giới hạn tương ứng và đọc kết quả bằng phương pháp điện di trên gel agarose.

Kỹ thuật xử lý và phân tích thống kê

  • Kiểm định tính cân bằng di truyền Hardy - Weinberg (p-HWE) cho các alen và kiểu gen.
  • Phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến (sử dụng phương pháp loại trừ từng bước Backward) để ước tính tỷ số chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI).
  • Sử dụng mô hình trung bình hóa Bayesian (Bayesian Model Averaging - BMA) để lựa chọn các biến dự báo tối ưu, dựa trên tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC) và tiêu chuẩn thông tin Bayesian (BIC).
  • Xây dựng đường cong đặc tính hoạt động của bộ thu (ROC) và tính diện tích dưới đường cong (AUC) để đánh giá khả năng phân loại và dự đoán nguy cơ béo phì của các mô hình kết hợp gen và môi trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tập trung tổng kết các định nghĩa, phân loại béo phì theo sinh bệnh học (béo phì đơn thuần và béo phì bệnh lý/nội tiết), theo hình thái mô mỡ và theo vị trí giải phẫu (béo bụng, béo đùi). Tác giả trình bày bức tranh dịch tễ học thừa cân, béo phì của trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam qua các giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2018. Chương 1 phân tích chi tiết các phương pháp đánh giá dinh dưỡng (nhân trắc học, đo nếp gấp da, đo tỷ lệ mỡ bằng DEXA/BIA, chỉ số hóa sinh và khẩu phần 24 giờ).

Đồng thời, chương tổng quan làm rõ các hậu quả tim mạch, rối loạn chuyển hóa (kháng insulin, đái tháo đường tuýp 2, rối loạn lipid máu), bệnh cơ xương khớp, sỏi mật, ung thư và gánh nặng tâm lý xã hội do béo phì gây ra. Phần cuối chương dành phân tích cấu trúc, chức năng sinh học và bằng chứng quốc tế về vai trò của 3 gen FTO, MC4R, ADRB3, cùng các yếu tố epigenetic (ngoại di truyền) tác động đến nguy cơ béo phì ở trẻ nhỏ.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực địa tại 36 trường mầm non thuộc 3 quận/huyện của Hà Nội (Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Đông Anh). Tác giả làm rõ các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu; công thức tính cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn cho cả hai thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang ($n = 14.720$) và nghiên cứu bệnh - chứng ($n = 1.062$, gồm 354 trẻ bệnh và 708 trẻ chứng).

Chương này trình bày chi tiết các bảng thông số kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử:

  • Trình tự nucleotide của các cặp mồi cho kỹ thuật AS-PCR và RFLP-PCR.
  • Thành phần hóa chất, thể tích phản ứng PCR.
  • Chu trình nhiệt (nhiệt độ, thời gian gắn mồi, số chu kỳ phản ứng).
  • Enzyme cắt giới hạn, nhiệt độ và thời gian ủ cắt enzyme.
  • Kích thước các phân đoạn ADN sản phẩm trước và sau khi ủ enzyme trên ảnh điện di gel agarose.
  • Quy trình khống chế sai số nhân trắc, quy trình làm sạch dữ liệu và các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu thực chứng thu được từ hai giai đoạn nghiên cứu:

  1. Thực trạng thừa cân, béo phì ở trẻ mầm non Hà Nội ($n = 14.720$):

    • Tỷ lệ thừa cân chung là 8,5% và tỷ lệ béo phì chung là 4,6%.
    • Sự phân bố theo khu vực địa lý: Tỷ lệ thừa cân, béo phì cao nhất ở quận Hoàn Kiếm (nội thành trung tâm), tiếp đến là quận Hoàng Mai (ven đô) và thấp nhất ở huyện Đông Anh (ngoại thành).
    • Sự khác biệt theo giới tính: Trẻ nam có tỷ lệ thừa cân và béo phì cao hơn rõ rệt so với trẻ nữ ở hầu hết các nhóm tuổi.
    • Mối liên quan nhân khẩu - gia đình: Trình độ học vấn của cha mẹ, điều kiện kinh tế gia đình khá/giàu, cân nặng sơ sinh của trẻ $\ge 3.500\text{g}$, và tình trạng thừa cân/béo phì của cha hoặc mẹ có mối liên quan thuận với nguy cơ béo phì của trẻ.
  2. Đặc điểm kiểu gen và tần số alen trong nghiên cứu bệnh - chứng (354 trẻ béo phì, 708 trẻ bình thường):

    • Tần số kiểu gen và alen của cả 3 đa hình rs9939609 (FTO), rs12970134 (MC4R), và rs4994 (ADRB3) đều tuân theo định luật cân bằng Hardy - Weinberg ($p > 0,05$).
    • Nhóm trẻ mang alen nguy cơ A của gen FTO (kiểu gen TA và AA) có nguy cơ béo phì cao hơn nhóm mang kiểu gen TT.
    • Nhóm trẻ mang alen nguy cơ A của gen MC4R (kiểu gen GA và AA) có liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng béo phì so với nhóm mang kiểu gen GG.
    • Đối với SNP rs4994 gen ADRB3, có sự khác biệt về phân bố kiểu gen giữa nhóm bệnh và nhóm chứng, kiểu gen mang alen đột biến có xu hướng làm tăng nguy cơ béo phì.
    • Số lượng alen nguy cơ tích lũy càng nhiều trên một cá thể thì nguy cơ béo phì càng tăng rõ rệt.
  3. Phân tích đa biến và tương tác gen - môi trường:

    • Mô hình hồi quy logistic đa biến (phương pháp Backward) xác định các yếu tố môi trường độc lập làm tăng nguy cơ béo phì gồm: thói quen ăn nhanh, ăn nhiều đồ chiên rán/thức ăn nhanh, uống nước ngọt có gas, thời gian xem màn hình điện tử (tivi/điện thoại) $> 2\text{ giờ/ngày}$, thời gian ngủ đêm ít, và tiền sử mẹ tăng cân nhiều trong thai kỳ.
    • Khi đưa đồng thời cả yếu tố gen và yếu tố môi trường vào mô hình hồi quy logistic đa biến và phân tích BMA, mô hình tích hợp có chỉ số AIC/BIC tối ưu và diện tích dưới đường cong ROC (AUC) cao hơn so với mô hình chỉ chứa đơn lẻ yếu tố gen hoặc chỉ chứa yếu tố môi trường, cho thấy khả năng dự đoán nguy cơ béo phì tốt hơn khi kết hợp cả hai nhóm yếu tố.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, so sánh kết quả của luận án với các công bố khoa học trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về xu hướng dịch tễ thừa cân béo phì ở trẻ mầm non tại Hà Nội, giải thích sự khác biệt giữa các vùng sinh thái do quá trình đô thị hóa, lối sống ít vận động và chế độ ăn giàu năng lượng ở khu vực nội thành.
  • Phân tích cơ chế tác động của đa hình rs9939609 gen FTO đến hành vi ăn uống không kiểm soát và nồng độ leptin/ghrelin, so sánh tần số alen A tại quần thể trẻ em Việt Nam với các quần thể người da trắng, người Đông Á khác.
  • Đánh giá vai trò của thụ thể melanocortin 4 (MC4R) trong dẫn truyền tín hiệu điều hòa cảm giác no - đói tại vùng dưới đồi và đối chiếu với kết quả của Lê Thị Tuyết trên học sinh tiểu học.
  • Phân tích cơ chế sinh nhiệt và ly giải lipid của thụ thể ADRB3 ở mô mỡ nâu và mô mỡ trắng.
  • Bàn luận về giá trị ứng dụng của phương pháp BMA trong việc sàng lọc biến số dự đoán béo phì và tầm quan trọng của việc can thiệp sớm hành vi lối sống kết hợp hiểu biết về kiểu gen nhạy cảm ngay từ lứa tuổi mầm non.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Luận án cung cấp số liệu dịch tễ học cập nhật, quy mô lớn ($n = 14.720$) về thực trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em lứa tuổi mầm non tại 3 vùng đặc trưng (nội thành, ven đô, nông thôn) của thành phố Hà Nội theo chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2006 và 2007).
  2. Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam phân tích đồng thời 3 đa hình đơn nucleotide thuộc 3 gen quan trọng liên quan đến chuyển hóa năng lượng (FTO rs9939609, MC4R rs12970134, ADRB3 rs4994) trên đối tượng trẻ em lứa tuổi mầm non thông qua thiết kế nghiên cứu bệnh - chứng chặt chẽ ($1 : 2$, ghép cặp theo tuổi, giới và lớp học).
  3. Chứng minh rõ ràng giả thuyết tương tác đa nhân tố: Sự hiện diện của các alen nguy cơ di truyền kết hợp với các thói quen môi trường bất lợi (ăn nhanh, tiêu thụ đồ ngọt/thức ăn nhanh, xem tivi nhiều, ít vận động, thiếu ngủ) làm gia tăng nguy cơ béo phì ở trẻ nhỏ; mô hình dự báo tích hợp gen và môi trường (xây dựng qua phân tích BMA) có độ nhạy và giá trị dự báo vượt trội so với mô hình đơn biến.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu

  • Đối với nhà trường và ngành giáo dục mầm non: Xây dựng thực đơn bữa ăn học đường cân đối, giảm thực phẩm chế biến sẵn giàu béo/đường; đảm bảo thời lượng và không gian cho trẻ tham gia các trò chơi vận động thể lực tích cực hàng ngày; rèn luyện cho trẻ thói quen ăn chậm, nhai kỹ tại lớp.
  • Đối với gia đình và phụ huynh: Nâng cao kiến thức dinh dưỡng của cha mẹ; kiểm soát thời gian tiếp xúc với màn hình điện tử của trẻ dưới 2 giờ/ngày; không dùng đồ ăn ngọt/thức ăn nhanh làm phần thưởng; đảm bảo giấc ngủ đêm đủ và đúng giờ cho trẻ.
  • Đối với hệ thống y tế công cộng và dinh dưỡng học đường: Triển khai giám sát định kỳ nhân trắc học mầm non; xem xét áp dụng các mô hình sàng lọc nguy cơ cao (kết hợp tiền sử gia đình, nhân trắc sớm và chỉ dấu gen khi có điều kiện kỹ thuật) để đưa ra hướng dẫn can thiệp cá thể hóa sớm trước khi trẻ bước vào lứa tuổi học đường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu chỉ tiến hành tại 36 trường mầm non công lập thuộc 3 quận/huyện của Hà Nội, chưa bao phủ khối trường tư thục và các vùng miền khác trên cả nước.
    • Số lượng đa hình di truyền khảo sát giới hạn ở 3 SNP trên 3 gen (FTO, MC4R, ADRB3); trong khi béo phì là bệnh đa gen phức tạp chịu tác động của hàng chục biến thể di truyền khác nhau.
    • Việc đánh giá khẩu phần ăn và hoạt động thể lực chủ yếu dựa vào bảng hỏi tự điền từ phụ huynh và giáo viên, do đó khó tránh khỏi sai số nhớ lại hoặc đánh giá chủ quan.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát hệ thống bảng gen (gene panel) hoặc giải trình tự toàn bộ hệ gen (GWAS/WES) trên quần thể trẻ em Việt Nam để phát hiện thêm các biến thể di truyền đặc thù.
    • Triển khai các nghiên cứu can thiệp dọc theo dõi sự thay đổi chỉ số khối cơ thể và thành phần mỡ khi điều chỉnh lối sống trên nhóm trẻ mang kiểu gen nguy cơ cao.
    • Sử dụng các thiết bị đo lường vận động khách quan (như máy đo gia tốc kế - Accelerometer) để định lượng chính xác mức tiêu hao năng lượng của trẻ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh từ thiết kế nghiên cứu dịch tễ dịch chuyển sang nghiên cứu bệnh - chứng phân tử; quy trình chuẩn hóa kỹ thuật tách chiết ADN từ niêm mạc má và kỹ thuật AS-PCR, RFLP-PCR; quy trình ứng dụng mô hình BMA trong phân tích dịch tễ học dinh dưỡng.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo y học, dinh dưỡng: Tài liệu tham khảo cho các học phần Dinh dưỡng cộng đồng, Dinh dưỡng lâm sàng, Dịch tễ học phân tử và Đánh giá tình trạng dinh dưỡng.
  • Đối với cán bộ quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ xây dựng chiến lược phòng chống béo phì học đường và các hướng dẫn quốc gia về dinh dưỡng, hoạt động thể lực cho trẻ mầm non.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát tình trạng dinh dưỡng trên bao nhiêu trẻ mầm non và tại những địa bàn nào của Hà Nội?
Nghiên cứu tiến hành khảo sát dịch tễ học cắt ngang trên tổng số 14.720 trẻ mầm non tại 36 trường mầm non công lập thuộc 3 khu vực: quận Hoàn Kiếm (4.615 trẻ - đại diện vùng trung tâm nội thành), quận Hoàng Mai (4.871 trẻ - đại diện vùng ven nội thành) và huyện Đông Anh (5.234 trẻ - đại diện vùng nông thôn ngoại thành).

2. Tiêu chuẩn nào được áp dụng để chẩn đoán trẻ thừa cân, béo phì trong luận án?
Luận án áp dụng tiêu chuẩn chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới:

  • Trẻ dưới 5 tuổi: Sử dụng chuẩn WHO 2006, thừa cân khi Z-score cân nặng theo chiều cao (WHZ) $> +2\text{SD}$, béo phì khi WHZ $> +3\text{SD}$.
  • Trẻ từ 5 đến 6 tuổi: Sử dụng chuẩn WHO 2007, thừa cân khi Z-score BMI theo tuổi $> +1\text{SD}$, béo phì khi Z-score BMI theo tuổi $> +2\text{SD}$.

3. Ba gen và các biến thể đơn nucleotide (SNP) được phân tích trong nghiên cứu là gì và sử dụng kỹ thuật sinh học phân tử nào?
Ba SNP được phân tích bao gồm:

  • rs9939609 thuộc gen FTO (xác định bằng kỹ thuật RFLP-PCR).
  • rs12970134 thuộc gen MC4R (xác định bằng kỹ thuật AS-PCR).
  • rs4994 thuộc gen ADRB3 (xác định bằng kỹ thuật RFLP-PCR).
    Bệnh phẩm sử dụng là tế bào niêm mạc miệng/má của trẻ.

4. Thiết kế nghiên cứu bệnh - chứng trong giai đoạn 2 được chọn mẫu với tỷ lệ và số lượng như thế nào?
Nghiên cứu bệnh - chứng được thiết kế theo tỷ lệ ghép cặp $1 : 2$ (1 trẻ béo phì ghép cặp với 2 trẻ bình thường cùng lớp, cùng giới tính và cùng tháng tuổi). Cỡ mẫu thực tế thu thập và đưa vào phân tích kiểu gen là 354 trẻ béo phì (nhóm bệnh) và 708 trẻ bình thường (nhóm chứng), tổng cộng 1.062 trẻ.

5. Mô hình phân tích thống kê nào được sử dụng để tích hợp yếu tố gen và môi trường trong dự đoán nguy cơ béo phì?
Luận án sử dụng mô hình hồi quy logistic đa biến kết hợp phương pháp chọn biến từng bước liên tục (Backward stepwise) và mô hình trung bình hóa Bayesian (Bayesian Model Averaging - BMA), đánh giá chất lượng mô hình thông qua tiêu chuẩn thông tin AIC, BIC và diện tích dưới đường cong ROC (AUC).

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của Đỗ Nam Khánh là công trình nghiên cứu dinh dưỡng học đường quy mô lớn, phản ánh bức tranh dịch tễ học thừa cân, béo phì ở trẻ mầm non Hà Nội năm 2019 với sự chênh lệch rõ rệt theo khu vực địa lý và giới tính. Bằng việc tích hợp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu bệnh - chứng phân tử, luận án đã xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống kê của các biến dị trên các gen FTO, MC4R, ADRB3 cùng các yếu tố hành vi ăn uống và lối sống đối với nguy cơ béo phì ở trẻ nhỏ. Kết quả nghiên cứu khẳng định mô hình dự đoán béo phì kết hợp cả yếu tố môi trường và di truyền đem lại giá trị phân loại ưu việt, đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng cho công tác can thiệp và dự phòng thừa cân, béo phì sớm tại cộng đồng.