mở đầu cho phong trào nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, đƣa tâm lý học phát triển theo hƣớng mới, sử dụng trắc nghiệm làm công cụ khảo sát tâm lý. Ở Anh quốc, Francis Galton áp dụng những nguyên tắc Darwin (1859) vào việc khảo sát sự khác biệt giữa những cá thể, các tính chất sinh lý và tâm lý liên quan đến yếu tố di truyền. Nhằm chọn lọc những con ngƣời sẽ làm cha mẹ tốt nhất, Galton đã triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm con ngƣời, các đặc điểm này có thể đƣợc xem nhƣ những chỉ số về độ ƣu việt. Vì ông tin rằng một số năng lực về thể chất xác định có thể sử dụng nhƣ các số đo trí thông minh, nên ông đã gọi các trắc nghiệm này là các trắc nghiệm về trí tuệ - mental test.
Chúng là những phép đo về sự tinh nhạy trong nhìn và nghe, cƣờng độ cơ bắp, thời gian phản ứng và các chức năng vận động giác quan khác. Ông đề xuất những tƣ tƣởng trắc nghiệm đầu tiên. Cống hiến to lớn của ông là xây dựng nên kỹ thuật nghiên cứu những khác biệt cá nhân trên cơ sở sử dụng phƣơng pháp thống kê. Thuật ngữ trắc nghiệm này đƣợc sử dụng rộng rãi sau khi nhà tâm lý học Hoa Kì Mac K.Cattell đƣa ra khái niệm trắc nghiệm trí tuệ trong tác phẩm “Trắc nghiệm trí tuệ và đo lường” 2 ra đời vào năm 1890 tại New York.
Trong tác phẩm này, Mac K. Cattell đƣa ra khái niệm trắc nghiệm trí tuệ để chỉ ra bằng chứng tâm lý khác biệt giữa các cá nhân và ông đã làm mẫu 50 trắc nghiệm. Từ đây, trắc nghiệm đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là dụng cụ, phƣơng tiện, cách thức để khảo sát và đo lƣờng trong tâm lý. Năm 1904, một nhà tâm lý học ngƣời Pháp, Alfred Binet, đƣợc giới lãnh đạo nhà trƣờng ở Paris yêu cầu xây dựng một phƣơng pháp để xác định những trẻ em bị tàn tật về mặt tâm thần mà không thể tiếp thu theo cách dạy bình thƣờng ở nhà trƣờng.
Cách tiếp cận của Binet rất trực tiếp. Các câu hỏi trong bài trắc nghiệm mà ông xây dựng, yêu cầu những kỹ năng tổng quát, cách lập luận thông thƣờng và một kho thông tin chung cho câu trả lời. Các điểm số đƣợc cho theo tuổi trí lực – mental age. Nếu 1 Lâm Quang Thiệp (2008), Trắc nghiệm và ứng dụng, NXB Khoa học và kỹ thuật, tr.15 2 Châu Kim Lang (1988), Trắc nghiệm kiến thức kỹ thuật nông nghiệp ở trƣờng phổ thông trung học, NXB Giáo dục, tr.
HVTH: LÊ MINH CÚC PHƢƠNG 5 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. NGUYỄN THỊ DIỆU THẢO một em nhỏ tuổi hơn có thể trả lời cùng các câu hỏi của phần lớn các em ở độ tuổi lên mƣời chẳng hạn, thì ngƣời ta nói em này có độ tuổi trí lực là mƣời tuổi. Đến năm 1910, loại trắc nghiệm do G. Munsterburg xây dựng dùng cho công tác tuyển chọn nghề nghiệp cũng đã góp phần đáng kể vào việc phát triển rộng rãi việc sử dụng trắc nghiệm.
Cũng trong năm này, G. Rôtxôlimô đã đƣa ra phƣơng pháp “trắc diện tâm lý”, liền sau đó đã đƣợc dịch ra tiếng Đức và đƣợc chú ý nhiều ở Tây Âu và Mỹ. Vào năm 1912, nhà tâm lý học ngƣời Đức V. Stern đã đƣa ra khái niệm “hệ số thông minh” (Intelligence Quotient), viết tắt là IQ, và xem nó nhƣ là chỉ số của nhịp độ phát triển trí tuệ, đặc trƣng cho một đứa trẻ nào đó.
Hệ số này chỉ ra sự vƣợt lên trƣớc hay chậm lại của tuổi trí khôn so với tuổi thời gian. Terman, giáo sƣ tâm lý trƣờng Đại học Stanford ở Mỹ, đã cùng với cộng sự của mình hai lần cải tổ bản trắc nghiệm thông minh của Binet để dùng cho trẻ em Mỹ. Bản cải tiến đó đƣợc gọi là trắc nghiệm Stanford – Binet. Và bài trắc nghiệm đƣợc sửa lại một lần nữa vào năm 1960.
Trắc nghiệm Binet đã đƣợc dùng một cách rộng rãi và đã có tác động rộng lớn đến việc triển khai các phép đo lƣờng tiếp theo. Trong thời gian diễn ra cuộc chiến thế giới lần thứ nhất, đã ra đời các trắc nghiệm để nghiên cứu các nhóm – các trắc nghiệm “Alpha Lục quân” và “Beta Lục quân” của Mỹ nhằm giải quyết một loạt vấn đề về việc tuyển chọn nghề nghiệp quân sự. Đây là các bài trắc nghiệm kỹ năng và kỹ xảo cá biệt dùng để tuyển chọn, phân loại binh sĩ và trao công việc phù hợp với năng lực trí tuệ của họ. Trong đó, bài trắc nghiệm Alpha là loại trắc nghiệm viết, bài trắc nghiệm Beta dùng các công cụ không đòi hỏi khả năng đọc hiểu.
Cả hai bài trắc nghiệm đều là trắc nghiện nhóm, đƣợc chấm điểm khách quan. Sau các loại trắc nghiệm trí thông minh, kỹ xảo, các trắc nghiệm về khả năng, sở thích, nhân cách,… đã không ngừng phát triển và áp dụng rộng rãi trong nhiều năm qua. Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XIX, ngƣời ta đã dùng phƣơng pháp trắc nghiệm chủ yếu để phát triển năng khiếu, xu hƣớng nghề nghiệp của học sinh. Sang đầu thế kỷ XX, E.
Thomdike là ngƣời đầu tiên đã dùng trắc nghiệm nhƣ một phƣơng pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức học sinh, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là đối với một số kiến thức khác. Đến năm 1940, ở Hoa Kỳ đã xuất hiện nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá thành tích học tập của học sinh. Năm 1960, Hoa Kỳ đã có hơn 2000 chƣơng trình trắc nghiệm chuẩn. Đến năm 1963 đã xuất hiện công trình của Ghecbêrich dùng máy tính điện tử xử lý các kết quả trắc nghiệm trên diện rộng.
Vào thời điểm đó, ở Anh đã có Hội đồng quốc gia hàng năm quyết định các trắc nghiệm chuẩn cho các trƣờng trung học. Trong thời kỳ đầu, việc sử dụng phƣơng pháp trắc nghiệm ở các nƣớc phƣơng Tây đã có một số sai lầm nhƣ đã sa vào quan điểm hình thức, máy móc trong việc đánh giá năng lực trí tuệ, chất lƣợng kiến thức của học sinh, hoặc quan điểm phân biệt giai cấp, phủ nhận năng lực học tập của con em nhân dân lao động. Ở Liên Xô, từ năm 1926 đến năm 1931, đã có một số nhà sƣ phạm tại Matxcơva, Lêningrat, Kiep, thí nghiệm dùng trắc nghiệm để chẩn đoán đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểm tra kiến thức học sinh. Nhƣng do ảnh hƣởng của những sai lầm nói HVTH: LÊ MINH CÚC PHƢƠNG 6 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS.
NGUYỄN THỊ DIỆU THẢO trên, sử dụng mà chƣa thấy những nhƣợc điểm của trắc nghiệm nên ở thời kỳ này tại Liên Xô có nhiều ngƣời phản đối dùng trắc nghiệm. Chỉ từ năm 1963, tại Liên Xô mới phục hồi việc sử dụng trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức học sinh. Đã xuất hiện những công trình nghiên cứu dùng trắc nghiệm trong các môn học khác nhau: E. Craxmianscaia (1963)… ngƣời ta vẫn tiếp tục thảo luận về những ƣu điểm và nhƣợc điểm của trắc nghiệm.
Trong những năm gần đây trắc nghiệm là một phƣơng tiện có giá trị trong giáo dục. Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển một số môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến. Tại Việt Nam Trắc nghiệm khách quan đƣợc sử dụng từ rất sớm trên thế giới, song ở Việt Nam thì trắc nghiệm khách quan xuất hiện muộn hơn, cụ thể: Từ đầu thập niên 1950, học sinh Việt Nam đã đƣợc tiếp xúc với trắc nghiệm qua cuộc khảo sát khả năng ngoại ngữ do các cơ quan Quốc tế tổ chức 3. Ở miền Nam Việt Nam, từ những năm 1960 đã có nhiều tác giả sử dụng trắc nghiệm khách quan một số ngành khoa học (chủ yếu là tâm lí học).
Năm 1964, ở miền Nam thành lập cơ quan đặc trách về trắc nghiệm lấy tên “Trung tâm trắc nghiệm và hƣớng dẫn”. Dƣơng Thiệu Tống đã đƣa môn trắc nghiệm khách quan và thống kê giáo dục vào giảng dạy tại trƣờng Đại học Sài Gòn. Vào năm 1974, ở miền Nam đã tổ chức thi tú tài bằng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan. Tác giả Nguyễn Nhƣ An dùng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan trong việc thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lí của sinh viên Đại học sư phạm” năm 1976 và đề tài “Vận dụng phương pháp test và phương pháp kiểm tra truyền thống trong dạy học tâm lí học” năm 1978.
Tác giả Nguyễn Hữu Long, cán bộ giảng dạy khoa tâm lí, với đề tài: “Test trong dạy học”. Vào tháng 7 năm 1996, ở nƣớc ta, việc thí điểm thi tuyển sinh đại học bằng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan đã đƣợc tổ chức đầu tiên tại trƣờng Đại học Đà Lạt. Từ năm 2007 cho đến nay, trong các kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, nƣớc ta đã áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan (dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn) đối với các môn Lý, Hóa, Sinh và Anh văn. Trong tƣơng lai, hình thức thi bằng trắc nghiệm khách quan sẽ đƣợc áp dụng thêm cho nhiều môn học khác.
Tháng 4 năm 1998, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội - Đại học quốc gia Hà Nội có tổ chức cuộc hội thảo khoa học về việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong dạy học và tiến hành xây dựng ngân hàng trắc nghiệm khách quan để kiểm tra, đánh giá một số học phần của các khoa trong trƣờng. Hiện nay, một số khoa trong trƣờng đã bắt đầu sử dụng trắc 3 Dƣơng Thiệu Tống (2005), Trắc nghiệm và đo lƣờng thành quả học tập, NXB KH, tr.206 HVTH: LÊ MINH CÚC PHƢƠNG 7 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. NGUYỄN THỊ DIỆU THẢO nghiệm khách quan trong quá trình dạy học nhƣ: Toán, Lí … và một số bộ môn đã có học phần thi bằng phƣơng pháp trắc nghiệm nhƣ môn Tiếng Anh. Nhƣ vậy, phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan đã rất phổ biến ở các nƣớc phát triển, trong nhiều lĩnh vực, nhiều môn học với kết quả tốt và đƣợc đánh giá cao.
Tuy nhiên, ở Việt Nam việc sử dụng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan còn rất mới mẻ và hạn chế nhất là trong các trƣờng phổ thông. Để học sinh phổ thông có thể làm quen dần với phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan. Hiện nay, Bộ giáo dục và Đào tạo đã đƣa một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan lồng ghép với câu hỏi tự luận trong các sách giáo khoa một số môn học ở trƣờng phổ thông.