Chương 1. Trong chương này, nhóm nghiên cứu trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung: lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, phạm vi, dữ liệu, phương pháp, các đóng góp - điểm mới và kết cấu của đề tài. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu. Trong chương này, đề tài làm rõ các khái niệm, cách đo lường liên quan đến sức mạnh thị trường, đa dạng hóa thu nhập và ổn định ngân hàng.
Ngoài ra, trong chương này, tác giả cũng làm sáng tỏ tác động của sức mạnh thị trường và đa dạng hóa thu nhập đến ổn định ngân hàng. Đồng thời, dựa trên việc khảo lược các nghiên cứu trước đây để chỉ ra khe hở nghiên cứu và đề xuất các giả thuyết khoa học. Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, đề tài sẽ mô tả cụ thể về quy trình, phương pháp, mô hình và dữ liệu nghiên cứu.
Phân tích kết quả nghiên cứu. Trong chương này, đề tài sẽ thực hiện mô tả dữ liệu của các biến trong mô hình nghiên cứu. Đồng thời phân tích tác động của sức mạnh thị trường và đa dạng hóa thu nhập đến ổn định ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2019. Kết luận và hàm ý chính sách.
Dựa trên kết quả nghiên cứu đã phân tích tại chương 4, chương 5 trình bày kết luận nghiên cứu. Đồng thời, nhóm tác giả trình bày có một số hàm ý chính sách cũng như hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương 2, đề tài trình bày cơ sở lý thuyết về sức mạnh thị trường, đa dạng hóa thu nhập, ổn định ngân hàng cũng như một số lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu. Ngoài ra, trong chương này, nhóm tác giả cũng thực hiện khảo lược các nghiên cứu trước để đề xuất giả thuyết nghiên cứu.
SỨC MẠNH THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu đề cập về khái niệm sức mạnh thị trường. Theo Khemani (1993), sức mạnh thị trường đề cập đến khả năng của một công ty (hoặc một nhóm công ty) trong việc nâng cao và duy trì giá trên mức có thể chiếm ưu thế trong cuộc cạnh tranh được gọi là sức mạnh thị trường hoặc độc quyền. Việc thực thi quyền lực thị trường dẫn đến giảm sản lượng và lợi ích kinh tế.
Với Kaplow (2016), tác giả cho rằng sức mạnh thị trường đề cập đến các điều kiện trong đó các nhà cung cấp dịch vụ có thể luôn tính giá cao hơn giá mà thị trường cạnh tranh thiết lập. Fern&ez de Guevara, Maudos, & Perez (2005) đã định nghĩa sức mạnh thị trường của ngân hàng như một chỉ số đánh giá khả năng cạnh tranh và mô tả mức độ ngân hàng có thể định giá các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng vượt quá chi phí biên của ngân hàng. Như vậy từ các định nghĩa trên có thể hiểu, sức mạnh thị trường trong lĩnh vực ngân hàng là phạm trù qua đó những tổ chức có lợi thế được quyền đưa ra mức giá sản phẩm cao hơn so với giá cả chung của thị trường cạnh tranh, tuy nhiên điều này có thể ảnh hưởng đến năng suất và lợi ích kinh tế của tổ chức đó. Cách đo lường Trong các nghiên cứu trước đây, để đo lường sức mạnh thị trường của các ngân hàng, các nghiên cứu thường sử dụng hai phương pháp gồm (i) phương pháp dựa vào lý thuyết tổ chức ngành công nghiệp mới là chỉ số Lerner, chỉ số H (Fernández, González, & Suárez, 2016) và (ii) phương pháp dựa trên chỉ số đo lường mức độ tập trung của các ngân hàng (Allen N Berger, 1995).
Phương pháp dựa vào lý thuyết tổ chức ngành công nghiệp mới 9 Chỉ số Lerner Lerner (1934) đã đề xuất về một chỉ số để phản ánh sức mạnh độc quyền, được gọi là chỉ số Lerner (the Lerner Index of Monopoly Power). Chỉ số Lerner dao động trong khoảng từ 0 đến 1, trong đó chỉ số Lerner càng cao thể hiện sức mạnh thị trường càng lớn và mức độ cạnh tranh càng thấp (Fu, Lin, & Molyneux, 2014). Khi chỉ số Lerner bằng 0, nghĩa là doanh nghiệp không có sức mạnh thị trường để xác định giá, khi đó cạnh tranh thị trường đạt mức hoàn hảo. Do vậy, trong các nghiên cứu trước đây để phân tích về sức mạnh thị trường, chỉ số Lerner là một phương pháp được áp dụng phổ biến để đo lường sự khác biệt giữa giá và chi phí biên trong so sánh giá và được tính theo công thức sau: 𝑃𝑖𝑡 − 𝑀𝐶𝑖𝑡 𝐿𝑒𝑟𝑛𝑒𝑟𝑖𝑡 = 𝑃𝑖𝑡 Trong đó, 𝐿𝑒𝑟𝑛𝑒𝑟𝑖𝑡 là chỉ số Lerner của ngân hàng i trong năm t, 𝑃𝑖𝑡 là giá trung bình đầu ra của ngân hàng được đo lường bằng tỷ lệ tổng thu nhập (bao gồm thu nhập từ lãi và thu nhập từ các hoạt động phi lãi) chia cho tổng tài sản của ngân hàng i trong năm t; 𝑀𝐶𝑖𝑡 là chi phí biên của ngân hàng i trong năm t.
Khi đánh giá sức mạnh thị trường, nhiều nghiên cứu đã sử dụng chỉ số Lerner như Nguyen & ctg. (2012), Soedarmono, Machrouh, & Tarazi (2011), Labidi & Mensi (2015)… Chỉ số H Panzar & Rosse (1987) đã phát triển chỉ số H, là một trong những chỉ số ước lượng tính độc quyền của các ngân hàng. Tuy nhiên theo Bikker & Bos (2008), một trong những tính năng quan trọng của chỉ số H theo Panzar-Rosse phải được áp dụng trên cơ sở các quan sát có trong cân bằng dài hạn. Dựa trên nghiên cứu của Panzar & Rosse (1987), sức mạnh thị trường của một ngân hàng có thể được đo bằng mức độ thay đổi doanh thu khi thay đổi chi phí của các yếu tố đầu vào và thông qua phương trình sau: 𝑚 𝜕𝑅𝑖∗ 𝑤𝑘𝑖 𝐻= ∑ × ∗ 𝑘=1 𝜕𝑤𝑘𝑖 𝑅𝑖 Trong đó 𝑅𝑖 là doanh thu của ngân hàng i, 𝑤𝑘𝑖 là giá đầu vào k của ngân hàng i; 𝜕𝑅𝑖∗ và 𝜕𝑤𝑘𝑖 là sự co giãn của doanh thu và giá của các yếu tố đầu vào của ngân hàng.
Theo Panzar & Rosse (1987) chỉ số H có thể nhận giá trị âm đến 1. Trong đó, khi chỉ số H âm hoặc bằng 0 (≤0) thì cấu trúc của thị trường là độc quyền, khi đó sức mạnh thị 10 trường đạt mức cao nhất. Khi chỉ số H nằm giữa khoảng từ 0 đến 1 (0<H<1), thể hiện các mức độ cạnh tranh khác nhau, giá trị cao hơn cho thấy sức mạnh thị trường thấp hơn so với giá trị H thấp hơn. Khi H=1, lúc này thị trường cạnh tranh là hoàn hảo, khi đó, các nguồn lực của thị trường sử dụng hiệu quả nhất và các ngân hàng độc lập không có sức mạnh thị trường để áp đặt giá nhằm tạo ra lợi thế độc quyền.
Phương pháp đo lường mức độ tập trung ngân hàng Chỉ số HHI (Herfindhal Hirschman Index) Trong ngành ngân hàng nói riêng và các ngành công nghiệp khác nói chung, chỉ số HHI (Herfindhal Hirschman Index) được sử dụng để đo lường quy mô của doanh nghiệp / ngân hàng trong mối tương quan với toàn ngành. Đây là một chỉ báo về mức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành. Đối với ngành ngân hàng, HHI là thước đo sức mạnh thị trường và cạnh tranh trong các NHTM, được tính bằng tổng bình phương thị phần của các ngân hàng, cụ thể theo công thức: 𝑛 𝐻𝐻𝐼𝑡 = ∑ 𝑠𝑖𝑡2 𝑖=1 Trong đó HHI là chỉ số đo lường mức độ tập trung của hệ thống, n là số ngân hàng có trong hệ thống, 𝑠𝑖𝑡 là thị phần của ngân hàng i tại thời điểm t. Theo Horizontal Merger Guidelines, ban hành bởi Bộ Tư pháp Hoa Kỳ và Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ, các cơ quan quản lý cạnh tranh thường phân loại các thị trường theo cơ sở như sau: (i) HHI<1,000 nghĩa là thị trường không mang tính tập trung; (ii) 1,000≤HHI≤1,800: thị trường tập trung ở mức độ vừa phải; (iii) HHI>1,800: thị trường tập trung ở mức độ cao.
Như vậy, chỉ số HHI tăng, nghĩa là sức mạnh thị trường giảm, ngược lại chỉ số HHI giảm nghĩa là sức mạnh thị trường của các ngân hàng tăng. Chỉ số tập trung CRk Chỉ số tập trung thị phần nhóm (Concentration ratio) là tổng thị phần của một nhóm ngân hàng có thị phần lớn nhất. Chỉ số này đánh giá mức độ tập trung thị phần xác định liệu có rơi vào nhóm một số ngân hàng hay không. Theo Wesman (2005), chỉ số này được tính toán thông qua thị phần của k ngân hàng lớn nhất trên thị trường, công thức được tính như sau: 11 𝑘 𝐶𝑅𝑘 = ∑ 𝑆𝑖 𝑖=1 Trong đó, 𝐶𝑅𝑘 là chỉ số tập trung của k ngân hàng lớn nhất trong hệ thống, 𝑆𝑖 là thị phần của ngân hàng lớn thứ i trong hệ thống, k là số lượng ngân hàng trong nhóm, k có thể là 3 hoặc 5 tùy vào trường hợp xác định CR3 hay CR5.
Dựa vào các mức độ tập trung, có thể phân loại thị trường thành các dạng như sau: (i) sức mạnh thị trường thấp nhất (cạnh tranh hoàn hảo) khi tỷ lệ tập trung là rất nhỏ; (ii) cạnh tranh một cách tương đối CR3<65%, nghĩa là mức độ tập trung của hệ thống ngân hàng ở mức trung bình; (iii) độc quyền nhóm (Oligopoly) hay có vị trí thống lĩnh thị trường nếu CR3>65%, thể hiện mức tập độ tập trung thị trường cao, sức mạnh thị trường ở mức tương đối; (iv) độc quyền khi CR1 xấp xỉ 100% (một ngân hàng chiếm toàn bộ thị trường). Như vậy, có thể thấy, chỉ số CRk càng cao thể hiện mức độ tập trung thị trường càng lớn và sức mạnh thị trường sẽ tập trung tại nhóm ngân hàng này. Ngược lại, nếu chỉ số CRk càng thấp chứng tỏ hệ thống ngân hàng không có sự tập trung lớn, lúc này cạnh tranh sẽ gia tăng và sức mạnh thị trường sẽ suy yếu. ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP 2.
Khái niệm Về khái niệm đa dạng hóa, theo từ điển Oxford thì đa dạng hóa là việc phát triển nhiều loại sản phẩm, sở thích, kỹ năng,… để thành công hoặc giảm rủi ro1. Một vài nghiên cứu cho rằng đa dạng hóa thu nhập bản chất là sự gia tăng của các nguồn thu nhập với tỷ trọng cân bằng từ các nguồn khác nhau (Wan, Li, Wang, Liu, & Chen (2016). Tuy nhiên, trong ngành ngân hàng thì đa dạng hóa thu nhập được thể hiện rõ ràng về tỷ trọng nguồn thu nhập phi lãi trong tổng thu nhập (Rose & Hudgins, 2013), bởi lẽ nguồn thu truyền thống và chủ yếu của ngân hàng là thu nhập lãi. Đồng thời, Elsas, Hackethal, & Holzhäuser (2010) nêu ra NHTM thường chuyển từ các dịch vụ kinh doanh truyền thống sang các hoạt động thu phí để đa dạng hóa thu nhập.