Chương 1 đã chỉ ra sự quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc phân tích tác động của hình thức QC qua mạng xã hội tới quyết định mua sắm của SV tại TP. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, đề tài đặt ra 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được giải quyết thông qua 03 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, đề tài trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu, là các SV đang theo học tại các trường Đại học tại TP. Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được sử dụng trong nghiên cứu, dựa trên cơ sở và mở rộng các nghiên cứu trước để xác định tác động QC qua MXH đến quyết định mua sắm của SV tại khu vực TP.
Phần cuối trình bày bố cục của khóa luận gồm 05 chương và sơ lược về nội dung chính của mỗi chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ đề cập đến cơ sở của lý thuyết như các khái niệm, đặc điểm, điều kiện, thực trạng. Tiếp đó là tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó có liên quan. Từ đó có thể đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu về tác động của QC qua MXH đến quyết định mua sắm của đối tượng sinh viên tại TP.
Mô hình Hành vi mua sắm của người tiêu dùng Quyết Phản ứng Nhận thức Tìm kiếm Đánh giá định mua sau khi nhu cầu thông tin hàng mua hàng Hình 2. Mô hình Hành vi mua sắm của NTD (Nguồn: Philip Kotler, 2014) Qua mô hình, có thể thấy “Tìm hiểu thông tin” là bước không thể thiếu để dẫn đến hành vi mua sắm của NTD. Giai đoạn “Tìm hiểu thông tin” là giai đoạn khơi dậy nhu cầu của NTD, giúp họ tìm kiếm SP phù hợp để thỏa mãn nhu cầu. Vì vậy, NTD thường sẵn sàng tìm hiểu thêm thông tin về SP.
Ở đó có đa dạng các nguồn thay thế để thu thập thông tin đầy đủ và đáng tin cậy nhất. NTD có thể liên hệ với gia đình, bạn bè,. của mình hoặc tìm kiếm các nguồn thương mại như - QC, nhà bán lẻ,. Bằng cách này trước khi mua SP, NTD sẽ cố gắng thu thập thông tin liên quan.
Như vậy, QC là một phương tiện giúp người bán quảng bá thông tin SP hàng hóa và dịch vụ đến KH, từ đó QC sẽ gây được sự hứng thú của nguồn KH tiềm năng qua việc trình bày thông điệp của SP. Đặc biệt, trong bối cảnh nền công nghệ tiên tiến như hiện nay, phần lớn mọi người đều sở hữu các thiết bị thông minh với tần suất cao như điện thoại, máy tính bảng, máy tính xách tay… Điều này làm cho việc sử dụng QC qua MXH để làm phương tiện truyền tải thông tin đến KH nhanh chóng, tiện lợi và hiệu quả nhất. Quảng cáo qua mạng xã hội 2. Khái niệm Đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ nghiên cứu nào đưa ra định nghĩa thống nhất về khái niệm “quảng cáo”, và “mạng xã hội”.
Theo Pháp lệnh QC số 39/2001/PL-UBTVQH10: “QC là giới thiệu đến NTD về hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời”. Theo Hiệp hội Marketing Mỹ: QC là bất cứ loại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của hàng hóa, dịch vụ hay tư tưởng hành động mà người ta phải trả tiền để nhận biết chủ thể QC. Theo Dabner (2011), MXH có thể được mô tả là các công cụ và thiết bị dựa trên internet và di động tích hợp với tính năng công nghệ, viễn thông và tương tác xã hội, cho phép xây dựng, đồng xây dựng và phổ biến ngôn ngữ, hình ảnh (tĩnh và chuyển động) và âm thanh. Taylor và cộng sự (2011), phương tiện truyền thông xã hội - có nhiều hình dạng khác nhau và hình thức, nhưng chúng có những điểm chung nhất định.
MXH cho phép người dùng: xây dựng một hồ sơ trong một hệ thống giới hạn, duy trì danh sách những người dùng khác mà họ chia sẻ kết nối, xem và duyệt danh sách kết nối của họ và của những người khác (Boyd và Ellison, 2008). Theo Philip Kotler & Gary Armstrong (2014) QC trực tuyến là những hoạt động tiếp thị SP, dịch vụ và xây dựng mối quan hệ với KH thông qua Internet, được thực hiện bởi các thành viên trong phạm vi quản lý của họ. Theo Yogesh K Dwivedi và cộng sự (2015), kể từ gần đây, tiếp thị truyền thông xã hội đã phân nhánh ra khỏi MXH để trở thành nền tảng được các nhà chiến lược công nghệ ưa chuộng cho mục đích tiếp thị hơn là tiếp thị truyền thống. Truyền miệng điện tử là nền tảng của hình thức tiếp thị này.
Tiếp thị trên MXH được định nghĩa là một cuộc đối thoại thường được kích hoạt bởi người tiêu dùng/khán giả hoặc một doanh nghiệp/sản 12 phẩm/dịch vụ di chuyển theo vòng tròn giữa các bên đã nêu trên nhằm bắt đầu chuyển động tiết lộ thông tin hay liên lạc về một số thông tin quảng cáo hoặc để học hỏi kinh nghiệm sử dụng của nhau, cuối cùng mang lại lợi ích cho một hoặc tất cả các bên liên quan. Qua đó, có thể hiểu rằng QC qua MXH là phương thức áp dụng các nền tảng MXH như Facebook, Tiktok, Youtube, Instagram, Zalo… để đăng tải và truyền bá nội dung, hình ảnh về SP, dịch vụ của các DN đến với KH một cách nhanh chóng và rộng rãi. Hiện nay, công cụ QC trực tuyến được các DN sử dụng phổ biến với quy mô mạnh mẽ. Đặc điểm Theo Vũ Thu Hà (2015), QC qua mạng xã hội có những đặc điểm: tính lan truyền: MXH có tốc độ lan truyền cực nhanh dựa trên đối tượng có nhu cầu và mối quan tâm; tính tương tác: dựa vào mạng xã hội, các DN có thể hình thành cuộc đối thoại mang tính tương hỗ giữa DN – KH; KH – DN – KH, qua đó giúp DN có thể tạo nên những ý tưởng mới để cải thiện SP và dịch vụ tốt hơn; tính linh hoạt và khả năng phân phối: QC trên MXH được cập nhật liên tục và có thể đăng tải hoặc xóa bỏ bất cứ lúc nào dựa vào hiệu suất hoạt động, khả năng nhắm chọn: khi QC qua MXH, DN có thể dựa vào sở thích cá nhân, hành vi của NTD để đưa ra SP phù hợp; khả năng theo dõi: những công cụ của QC thông qua MXH thường kết hợp với đánh giá tính hiệu quả của hoạt động tryền thông đó nhằm hỗ trợ DN trong việc kiểm soát được lượng người truy cập, thời gian mỗi lần truy cập, từ đó có thể theo dõi hành vi của người sử dụng, đồng thời phân tích, dự đoán thói quen cũng như sở thích KH tiềm năng hướng đến; chi phí thấp hoặc gần như bằng không: khác với QC truyền thống, chi phí bỏ ra của DN khi áp dụng MXH để QC gần như bằng không vì nếu thông tin về SP, dịch vụ của DN đưa ra thỏa mãn đúng yêu cầu của NTD thì khả năng KH tiếp tục lan truyền cho bạn bè, người thân, đồng nghiệp là rất cao.
13 Như vậy, so với phương thức QC truyền thống thì QC trên MXH chiếm nhiều ưu điểm và mang lại lợi ích hơn cho DN. Các loại hình quảng cáo qua mạng xã hội a) Display Advertising (QC hiển thị hình ảnh) Là một loại QC có chứa một hình ảnh để quảng bá DN. QC dạng hình ảnh bao gồm một hình ảnh (do đơn vị DN cung cấp) chứa thông tin giới thiệu về DN, dịch vụ hoặc SP. Khi người dùng nhấp vào một vị trí bất kỳ trên QC, họ sẽ được đưa đến trang web QC.
• Hình ảnh tĩnh – đây là các biểu ngữ hoặc QC hình dạng cơ bản (vuông, chữ nhật,…) xuất hiện xung quanh nội dung. • Văn bản – đây là những QC được thực hiện qua các đoạn văn bản và truyền tải nội dung thông tin QC có liên quan. • Biểu ngữ nổi (Floating Banner) – những chuyển động này trên màn hình hoặc trôi nổi trên nội dung của trang web thông thường. • Hình nền – hình này xuất hiện và thay đổi nền của trang web, lấp đầy toàn bộ trang.
• QC Popup – đây là những cửa sổ mới xuất hiện trước nội dung trang web; cửa sổ mới mở hiển thị toàn bộ QC để khách truy cập có thể xem. • Flash – đây là những QC động và trình chiếu liên tục nhiều nội dung khác nhau. • Video – đây là những QC dạng video ngắn, tự động phát hoặc video chờ được khách truy cập chủ động phát. b) Video Advertising (QC Video) Là cách tiếp thị SP bằng video, SP đó có thể là thương hiệu, dịch vụ hay thương hiệu cá nhân.
Mục đích của chúng là quảng bá và truyền thông SP của DN đến đối tượng NTD. Chỉ cần nội dung độc đáo và chạm tới nhu cầu của KH thì hoàn toàn có thể đưa DN đến rộng rãi với công chúng. c) Stories Advertising 14 Là một loại QC nhằm tạo ra trải nghiệm thương hiệu thông qua cách kể chuyện bằng những âm thanh, hình ảnh và video hiển thị trên đầu bảng tin hoặc trong trang cá nhân của mỗi người với những nội dung riêng biệt được tạo bởi các cá nhân, DN khác nhau, theo đó KH trở thành trung tâm của câu chuyện để thúc đẩy sự tham gia, mang lại hiệu quả lợi nhuận cho DN. d) QC trên Messenger.
Là một loại QC sẽ hiển thị trên ứng dụng tin nhắn Messenger trên di động của tất cả người dùng nền tảng Facebook. Bài QC của nó sẽ hiển thị theo cách thông thường giống các QC khác. Tuy nhiên, khi KH nhấn vào Hình ảnh, đường dẫn trong bài post, thì lập tức, KH sẽ được chuyển tới tin nhắn đã cài sẵn của fanpage bán hàng. Sự cần thiết của quảng cáo qua mạng xã hội Hình thức truyền thông qua không gian ảo ngày càng phổ biến và có ảnh hưởng rộng rãi, phương thức áp dụng qua MXH là một cách tuyệt vời để QC kỹ thuật số thương hiệu và SP của DN.
Sức mạnh của MXH hiện nay không còn khiến con người quá ngạc nhiên khi đơn vị QC có thể tiếp cận một số lượng lớn người trong vòng vài giây sau khi đăng tải QC, giúp DN có thể giảm chi phí và làm cho QC tiếp xúc gần hơn với đối tượng tiềm năng thông qua các nền tảng MXH. Với lượng người dùng trực tuyến khổng lồ, chiếm gần 66.2% dân số thế giới tính đến đầu năm 2024 (Theo DataReportal.com, 2024), các nhà tiếp thị không được bỏ lỡ cơ hội QC trên các diễn đàn kỹ thuật số này, nơi họ có thể tiếp xúc gần hơn với số lượng người mua tiềm năng lớn hơn so với truyền thông trên báo in hoặc truyền hình.