lời mở đầu rằng tài sản và nợ phải trả báo cáo trên bảng CĐKT phải được đánh giá, lựa chọn với cơ hội ngang nhau, nhưng phủ nhận rằng giá trị đó được thực hiện bằng cách nhận biết tất cả các tổn thất và không nhận biết các lợi ích. FASB (1980) đã mô tả ACC như sau: “Nguyên tắc thận trọng trong kế toán là một phản ứng cẩn thận (thận trọng) đối với những điều không chắc chắn để cố gắng đảm bảo rằng những bất ổn và những rủi ro tiềm tàng trong các tình huống kinh doanh được xem xét một cách đầy đủ. Vì vậy nếu có hai ước tính về số tiền được nhận hoặc phải trả trong tương lai có giá trị tương đương nhau thì ACC đề xuất sử dụng ước tính ít khả quan hơn. Tuy nhiên nếu hai giá trị này không ngang bằng nhau, ACC không bắt buộc nhất thiết phải sử dụng giá trị ít khả quan hơn.
ACC cũng không yêu cầu trì hoãn ghi nhận thu nhập khi đã có bằng chứng đầy đủ về sự tồn tại của nó hoặc ghi nhận tổn thất trước khi có bằng chứng đầy đủ cho thấy chúng đã thực sự phát sinh” (SFAC 2, 1980, trang 95) SFAC 2 (FASB, 1980) cũng cho rằng nguyên tắc thận trọng trong kế toán được phát triển trong suốt khoảng thời gian mà bảng cân đối kế toán được xem là BCTC luan an 11 chính, các khoản lợi nhuận chi tiết hoặc kết quả hoạt động khác hiếm khi được cung cấp ra bên ngoài doanh nghiệp. “Đối với chủ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác – những đối tượng chính sử dụng BCTC nằm bên ngoài doanh nghiệp – việc báo cáo giảm lợi ích của nguyên tắc thận trọng trong kế toán đã trở thành một cân nhắc phổ biến đáng mong muốn, vì càng báo cáo giá trị tài sản giảm xuống thì mức độ an toàn của tài sản đảm bảo cho các khoản vay hoặc các khoản nợ khác càng cao…” (SFAC, 1980, trang 23). Ở góc nhìn từ Bảng Cân đối kế toán, Watts và Zimmerman (1986) cho rằng nguyên tắc thận trọng trong kế toán là chỉ dẫn cho kế toán “báo cáo giá trị thấp nhất trong số các giá trị có thể có của tài sản và giá trị cao nhất đối với các khoản nợ”. Feltham và Ohlson (1995) mô tả ACC như sau: khi đánh giá tài sản theo nguyên tắc cơ sở dồn tích thì giá trị ghi sổ luôn được đánh giá thấp hơn trong mối tương quan với giá trị thị trường của nó.
Beaver và Ryan (2000) đã tìm thấy sự khác biệt chắc chắn giữa giá trị ghi sổ và giá trị thị trường (có thể thông qua giá trị chênh lệch giữa giá trị ghi sổ so với giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu) có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện ACC (ví dụ như chi phí R&D, chi phí quảng cáo, dự phòng, tính giá xuất kho theo phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO)…). Theo GAAP, nguyên tắc thận trọng là những chỉ dẫn yêu cầu kế toán của DN phải công bằng và hợp lý trong việc thực hiện đánh giá và đưa ra các ước tính kế toán nhằm không phóng đại cũng như không giảm bớt các chi phí và kết quả hoạt động của DN. Ví dụ về nguyên tắc thận trọng trong GAAP bao gồm: ghi nhận giá trị tài sản thấp hơn giá phí hoặc nguyên tắc giá trị thị trường, ghi nhận chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, các cáo buộc chống lại việc công nhận nội bộ giá trị lợi thế thương mại… Ở góc nhìn từ’Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,’Givoly và Hyan (2000) định nghĩa ACC là sự lựa chọn một trong các nguyên tắc kế toán dẫn đến việc tối thiểu hóa của thu nhập gián tiếp tích lũy (dồn tích). Họ sử dụng sự cộng dồn của những dồn tích chênh lệch giữa kế toán theo cơ sở tiền và kế toán theo cơ sở dồn tích như là một phương pháp đo lường việc thực hiện ACC.
Nghiên cứu cho rằng sự chênh lệch giữa kế toán theo cơ sở tiền và kế toán theo cơ sở dồn tích đã được lũy kế một khoản lỗ lớn từ giai đoạn 1965 – 1968 và sự cộng dồn lũy kế các khoản lỗ này không thể được giải thích bằng những thay đổi về điều kiện nền kinh tế như là sát nhập, hợp nhất, hoạt động thâu tóm, tăng chi phí và trợ cấp hưu trí, tăng trưởng và lạm phát. Kế toán thực hiện như vậy một thời gian luan an 12 sẽ dẫn đến việc ghi nhận không kịp thời tương xứng trong ghi nhận thông tin tốt và thông tin xấu. Tính kịp thời không tương xứng này được gọi là thận trọng có điều kiện trong kế toán, hay còn gọi là ACC phụ thuộc vào tin tức (Beaver và Ryan, 2005; Ball and Shivakumar, 2005). Khái niệm về nguyên tắc thận trọng đầu tiên thể hiện qua lời cảnh báo được đưa ra trong nghiên cứu của Bliss (1924) là: ‘không dự báo lợi ích (lợi nhuận) nhưng dự đoán tất cả các tổn thất có thể có’.
Điều này ngụ ý rằng tổn thất sẽ được xác định sớm hơn nhiều, trong khi việc ghi nhận lợi nhuận được hoãn lại cho đến khi đạt được lợi nhuận thực sự. Một ví dụ thường được trích dẫn của ACC là việc định giá thấp hơn so với giá trị thị trường của hàng tồn kho và chứng khoán kinh doanh. Đây chính là một trong những nội dung cụ thể trong thực hành kế toán của ACC, bởi vì tổn thất từ việc giảm giá trị thị trường (tổn thất) được ghi nhận trước khi hàng được bán, những lợi ích có được từ việc giá thị trường gia tăng thì không bao giờ được công nhận trước khi việc bán hàng được diễn ra. Ví dụ trên cũng thể hiện sự bất cân xứng trong việc ghi nhận thông tin xấu và thông tin tốt vào BCTC.
Hay nói cách khác, kế toán có nhiều khả năng báo cáo “thông tin xấu” về dòng tiền trong tương lai hơn là “thông tin tốt” (“thông tin xấu” được ghi nhận vào BCTC một cách kịp thời hơn). Các tổn thất chưa xảy ra thường được ghi nhận nhanh hơn vào kết quả kinh doanh so với những lợi ích dự kiến có được. Khái niệm Thận trọng được Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế đưa vào khuôn khổ lập và trình bày BCTC năm 1989 nhằm đảm bảo tính đáng tin cậy (Reliability) của thông tin kế toán. IASB giải thích về ACC là “một mức độ thận trọng trong việc đưa ra các ước tính cần thiết trong điều kiện không chắc chắn, như tài sản và thu nhập không được đánh quá quá cao và các khoản nợ, chi phí không được đánh giá thấp” (IASB, 1989, trang 37).
Trong các văn bản về kế toán được lưu giữ đã mô tả ACC rằng khi phải lựa chọn giữa hai hoặc nhiều kỹ thuật kế toán chấp nhận được thì ưu tiên lựa chọn kỹ thuật có tác động ít nhất đến vốn chủ sở hữu. Cụ thể hơn, ACC ngụ ý rằng tốt nhất là nên báo cáo giá trị thấp nhất có thể có của giá trị tài sản và doanh thu nhưng báo cáo giá trị cao nhất có thể có của nợ phải trả và chi phí (Belkaoui, 1985). Tuy nhiên trong một số trường hợp có thể xuất hiện sự xung đột giữa việc báo cáo thấp hơn giá trị lợi nhuận và việc báo cáo thấp hơn giá trị tài sản. Khi đó, các cân nhắc báo cáo thấp hơn giá trị lợi nhuận được ưu tiên hơn là đánh giá cao giá trị tài sản trong việc xác định liệu một phương pháp hoặc cách tiếp cận có thận trọng hay không (ARB 2, CAP, 1939).
ACC cũng được hiểu là doanh thu thì nên ghi nhận chậm (muộn) hơn so với ghi nhận trước, còn chi phí thì luan an 13 nên ghi nhận trước (Hendriksen & Van Breda, 1992). Ví dụ DN áp dụng phương pháp khấu hao nhanh sẽ làm cho chi phí khấu hao hàng tháng (hoặc năm) cao hơn, do đó thu nhập và giá trị còn lại của tài sản bị định giá thấp hơn trong thời gian tính khấu hao. Đây chính là sự bất cân xứng trong việc ghi nhận thông tin vì nó cho phép trong điều kiện không chắc chắn thì chỉ được ghi giảm giá trị tài sản thuần nhưng không được ghi tăng tài sản thuần nếu chưa có bằng chứng chắc chắn. Quan điểm này về ACC đã dẫn đến thường xuyên có những phê bình về ACC rằng ACC gây ra những sai lệch hoặc làm nhiễu loạn giá trị kế toán được báo cáo trong trường hợp kế toán áp dụng quá mức nguyên tắc này hoặc người sử dụng BCTC không có nhu cầu về ACC.
Bởi nếu thông tin kế toán do DN cung cấp không thể hiện được lợi ích tương lai DN có khả năng thu được hoặc trì hoãn ghi nhận lãi thì sẽ ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ cổ phiếu hoặc quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Khi đó cổ đông hoặc nhà đầu tư sẽ có thể sẽ đánh giá DN đang kinh doanh kém hiệu quả chỉ vì lợi nhuận tiềm năng chưa được ghi nhận. Ngoài ra, việc áp dụng nguyên tắc thận trọng ở kỳ này có thể gây ra hiện tượng tài sản và thu nhập bị thổi phồng ở kỳ sau, do đó ảnh hưởng đến tính hữu ích và trung lập của thông tin kế toán, hay nói cách khác có thể gây ra một sự thiên lệch trong BCTC. Tuy nhiên những lời phê bình này không giải thích được vì sao ACC không bị loại bỏ khỏi thực hành kế toán qua nhiều thế kỷ nếu nó thực sự làm giảm tính hữu ích của các con số kế toán.
Vì vậy mặc dù IASB khi sửa đổi Khung khái niệm vào năm 2010 đã đưa thận trọng ra khỏi các yêu cầu cơ bản của kế toán nhưng trong thực tế thì thận trọng vẫn hiện diện rất nhiều trong các nội dung của các chuẩn mực kế toán quốc tế cụ thể. Ngược lại Basu (1997) lập luận rằng ACC phát sinh từ nhu cầu ký kết hợp đồng (giao dịch) của người sử dụng BCTC bên ngoài DN và vai trò của ACC là làm tăng tính kịp thời của các con số kế toán đối với các thông tin. Đứng ở góc độ chi phí để ký kết hợp đồng giữa các bên trong DN đã giải thích lập luận này như sau: Trong trường hợp không chắc chắn về giá trị lợi nhuận trong tương lai, nhà quản lý thường có được những hiểu biết tường tận và đầy đủ về các hoạt động của DN cũng như giá trị của tài sản, trong khi đó những người bên ngoài DN như nhà đầu tư, cổ đông thiểu số, tổ chức tín dụng… thì phải mất thời gian cũng như chi phí để xác định được những thông tin này.