Luận án tiến sĩ tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

166
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Khái quát phương pháp nghiên cứu

1.6. Khung nghiên cứu của Luận án

1.7. Kết cấu của Luận án

1.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC THẬN TRỌNG TRONG KẾ TOÁN

2.1. Lý luận chung về nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.2. Lịch sử nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.3. Các mô hình đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại doanh nghiệp

2.4. Lý luận chung về quản trị công ty. Nguồn gốc và định nghĩa Quản trị công ty

2.5. Nội dung và đặc điểm của quản trị công ty. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.6. Tác động của quy mô Hội đồng quản trị đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.7. Tác động của việc kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc điều hành (CEO) đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.8. Tác động của tính độc lập của Hội đồng quản trị đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.9. Tác động của thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn về kế toán tài chính đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.10. Tác động của sự hiện diện của Ủy ban kiểm toán đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.11. Tác động của thành viên Ủy ban kiểm toán hoặc thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về kế toán tài chính đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.12. Tác động của Sở hữu của Ban giám đốc đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.13. Tác động của Sở hữu Nhà nước đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.14. Lý thuyết nền tảng phục vụ nghiên cứu tác động của đặc điểm QTCT đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

2.15. Lý thuyết thông tin bất đối xứng (Asymmetric Information)

2.16. Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

2.17. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)

2.18. Xác định khoảng trống nghiên cứu

2.19. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Xây dựng giả thuyết khoa học về các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty tác động đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

3.2. Quy mô Hội đồng quản trị

3.3. Kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc điều hành

3.4. Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành

3.5. Thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn về kế toán tài chính

3.6. Thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về kế toán tài chính

3.7. Tỷ lệ sở hữu của Ban giám đốc

3.8. Sở hữu của Nhà Nước

3.9. Các yếu tố khác không thuộc đặc điểm Quản trị công ty có ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

3.10. Mô hình nghiên cứu

3.11. Phương pháp nghiên cứu

3.12. Thiết kế nghiên cứu

3.13. Mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu

3.14. Phương pháp phân tích dữ liệu

3.15. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC THẬN TRỌNG TRONG KẾ TOÁN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

4.1. Kết quả đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.2. Thống kê mô tả biến độc lập và mối tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu

4.3. Thống kê mô tả các biến độc lập

4.4. Mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu

4.5. Kiểm định giả thuyết các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty tác động đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, CÁC KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

5.1. Phân tích, so sánh kết quả hồi quy giữa các mô hình

5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm

5.3. Sự kiêm nhiệm chức danh (CEO và chủ tịch HĐQT) và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

5.4. Thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn về kế toán tài chính và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

5.5. Thành viên ban kiểm soát có chuyên môn về kế toán tài chính và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

5.6. Tỷ lệ sở hữu của Ban giám đốc và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

5.7. Tỷ lệ sở hữu của Nhà nước và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán

5.8. Các khuyến nghị, đề xuất đối với việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

5.8.1. Khuyến nghị đối với doanh nghiệp

5.8.2. Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước

5.8.3. Khuyến nghị dành cho nhà đầu tư

5.8.4. Khuyến nghị dành cho cơ sở giáo dục đào tạo

5.9. Những đóng góp của luận án

5.9.1. Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

5.9.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

5.10. Các hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu trong tương lai

5.10.1. Các hạn chế của luận án

5.10.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản trị công ty và nguyên tắc thận trọng trong kế toán

Quản trị công ty (quản trị công ty) là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán. Nguyên tắc thận trọng (nguyên tắc thận trọng) yêu cầu kế toán phải ghi nhận các khoản lỗ tiềm tàng và không ghi nhận các khoản lợi nhuận cho đến khi chúng được thực hiện. Điều này giúp đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của thông tin tài chính. Tại các công ty niêm yết tại Việt Nam (công ty niêm yết Việt Nam), việc thực hiện nguyên tắc này không chỉ ảnh hưởng đến báo cáo tài chính mà còn tác động đến quyết định đầu tư của cổ đông và nhà đầu tư. Theo nghiên cứu của Ahmed và Duellman (2007), việc thực hiện nguyên tắc thận trọng có thể giúp giảm thiểu rủi ro trong kế toán và tăng cường tính minh bạch tài chính. Do đó, việc nghiên cứu tác động của quản trị công ty đến nguyên tắc thận trọng trong kế toán là cần thiết để hiểu rõ hơn về mối quan hệ này.

II. Tác động của các yếu tố quản trị công ty đến nguyên tắc thận trọng

Các yếu tố thuộc quản trị công ty như quy mô Hội đồng quản trị, tính độc lập của Hội đồng quản trị và sự hiện diện của Ủy ban kiểm toán có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán. Nghiên cứu cho thấy rằng quy mô Hội đồng quản trị lớn hơn có thể dẫn đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng tốt hơn, vì có nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau trong việc ra quyết định. Tính độc lập của Hội đồng quản trị cũng đóng vai trò quan trọng, khi các thành viên độc lập có thể đưa ra các quyết định không bị ảnh hưởng bởi các lợi ích cá nhân. Sự hiện diện của Ủy ban kiểm toán cũng giúp tăng cường tính minh bạch và giảm thiểu rủi ro trong việc thực hiện nguyên tắc thận trọng. Theo Beekes và cộng sự (2004), các công ty có cơ chế quản trị tốt sẽ có khả năng thực hiện nguyên tắc thận trọng cao hơn, từ đó nâng cao giá trị doanh nghiệp.

III. Minh bạch tài chính và nguyên tắc thận trọng

Minh bạch tài chính là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán. Các công ty niêm yết tại Việt Nam cần công khai thông tin tài chính một cách đầy đủ và kịp thời để đảm bảo rằng các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định chính xác. Việc công khai thông tin không chỉ giúp tăng cường tính minh bạch mà còn tạo ra sự tin tưởng từ phía nhà đầu tư. Theo nghiên cứu của Garcia Lara và cộng sự (2009), các công ty có mức độ công khai thông tin cao thường thực hiện nguyên tắc thận trọng tốt hơn, từ đó giảm thiểu rủi ro trong báo cáo tài chính. Điều này cho thấy rằng việc thực hiện nguyên tắc thận trọng không chỉ là trách nhiệm của bộ phận kế toán mà còn là một phần của chiến lược quản trị công ty tổng thể.

IV. Khuyến nghị cho các công ty niêm yết tại Việt Nam

Để nâng cao việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, các công ty niêm yết tại Việt Nam cần chú trọng đến việc cải thiện cơ chế quản trị công ty. Cần thiết lập một Hội đồng quản trị độc lập và có chuyên môn về kế toán tài chính, đồng thời tăng cường sự hiện diện của Ủy ban kiểm toán. Các công ty cũng nên thực hiện các biện pháp để đảm bảo tính minh bạch tài chính, bao gồm việc công khai thông tin tài chính một cách đầy đủ và kịp thời. Ngoài ra, cần có các quy định rõ ràng về việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán để đảm bảo rằng các công ty tuân thủ và thực hiện đúng các yêu cầu này. Những khuyến nghị này không chỉ giúp nâng cao tính chính xác của báo cáo tài chính mà còn tạo ra sự tin tưởng từ phía nhà đầu tư.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu rằng tài sản và nợ phải trả báo cáo trên bảng CĐKT phải được đánh giá, lựa chọn với cơ hội ngang nhau, nhưng phủ nhận rằng giá trị đó được thực hiện bằng cách nhận biết tất cả các tổn thất và không nhận biết các lợi ích. FASB (1980) đã mô tả ACC như sau: “Nguyên tắc thận trọng trong kế toán là một phản ứng cẩn thận (thận trọng) đối với những điều không chắc chắn để cố gắng đảm bảo rằng những bất ổn và những rủi ro tiềm tàng trong các tình huống kinh doanh được xem xét một cách đầy đủ. Vì vậy nếu có hai ước tính về số tiền được nhận hoặc phải trả trong tương lai có giá trị tương đương nhau thì ACC đề xuất sử dụng ước tính ít khả quan hơn. Tuy nhiên nếu hai giá trị này không ngang bằng nhau, ACC không bắt buộc nhất thiết phải sử dụng giá trị ít khả quan hơn.

ACC cũng không yêu cầu trì hoãn ghi nhận thu nhập khi đã có bằng chứng đầy đủ về sự tồn tại của nó hoặc ghi nhận tổn thất trước khi có bằng chứng đầy đủ cho thấy chúng đã thực sự phát sinh” (SFAC 2, 1980, trang 95) SFAC 2 (FASB, 1980) cũng cho rằng nguyên tắc thận trọng trong kế toán được phát triển trong suốt khoảng thời gian mà bảng cân đối kế toán được xem là BCTC luan an 11 chính, các khoản lợi nhuận chi tiết hoặc kết quả hoạt động khác hiếm khi được cung cấp ra bên ngoài doanh nghiệp. “Đối với chủ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác – những đối tượng chính sử dụng BCTC nằm bên ngoài doanh nghiệp – việc báo cáo giảm lợi ích của nguyên tắc thận trọng trong kế toán đã trở thành một cân nhắc phổ biến đáng mong muốn, vì càng báo cáo giá trị tài sản giảm xuống thì mức độ an toàn của tài sản đảm bảo cho các khoản vay hoặc các khoản nợ khác càng cao…” (SFAC, 1980, trang 23). Ở góc nhìn từ Bảng Cân đối kế toán, Watts và Zimmerman (1986) cho rằng nguyên tắc thận trọng trong kế toán là chỉ dẫn cho kế toán “báo cáo giá trị thấp nhất trong số các giá trị có thể có của tài sản và giá trị cao nhất đối với các khoản nợ”. Feltham và Ohlson (1995) mô tả ACC như sau: khi đánh giá tài sản theo nguyên tắc cơ sở dồn tích thì giá trị ghi sổ luôn được đánh giá thấp hơn trong mối tương quan với giá trị thị trường của nó.

Beaver và Ryan (2000) đã tìm thấy sự khác biệt chắc chắn giữa giá trị ghi sổ và giá trị thị trường (có thể thông qua giá trị chênh lệch giữa giá trị ghi sổ so với giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu) có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện ACC (ví dụ như chi phí R&D, chi phí quảng cáo, dự phòng, tính giá xuất kho theo phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO)…). Theo GAAP, nguyên tắc thận trọng là những chỉ dẫn yêu cầu kế toán của DN phải công bằng và hợp lý trong việc thực hiện đánh giá và đưa ra các ước tính kế toán nhằm không phóng đại cũng như không giảm bớt các chi phí và kết quả hoạt động của DN. Ví dụ về nguyên tắc thận trọng trong GAAP bao gồm: ghi nhận giá trị tài sản thấp hơn giá phí hoặc nguyên tắc giá trị thị trường, ghi nhận chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, các cáo buộc chống lại việc công nhận nội bộ giá trị lợi thế thương mại… Ở góc nhìn từ’Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,’Givoly và Hyan (2000) định nghĩa ACC là sự lựa chọn một trong các nguyên tắc kế toán dẫn đến việc tối thiểu hóa của thu nhập gián tiếp tích lũy (dồn tích). Họ sử dụng sự cộng dồn của những dồn tích chênh lệch giữa kế toán theo cơ sở tiền và kế toán theo cơ sở dồn tích như là một phương pháp đo lường việc thực hiện ACC.

Nghiên cứu cho rằng sự chênh lệch giữa kế toán theo cơ sở tiền và kế toán theo cơ sở dồn tích đã được lũy kế một khoản lỗ lớn từ giai đoạn 1965 – 1968 và sự cộng dồn lũy kế các khoản lỗ này không thể được giải thích bằng những thay đổi về điều kiện nền kinh tế như là sát nhập, hợp nhất, hoạt động thâu tóm, tăng chi phí và trợ cấp hưu trí, tăng trưởng và lạm phát. Kế toán thực hiện như vậy một thời gian luan an 12 sẽ dẫn đến việc ghi nhận không kịp thời tương xứng trong ghi nhận thông tin tốt và thông tin xấu. Tính kịp thời không tương xứng này được gọi là thận trọng có điều kiện trong kế toán, hay còn gọi là ACC phụ thuộc vào tin tức (Beaver và Ryan, 2005; Ball and Shivakumar, 2005). Khái niệm về nguyên tắc thận trọng đầu tiên thể hiện qua lời cảnh báo được đưa ra trong nghiên cứu của Bliss (1924) là: ‘không dự báo lợi ích (lợi nhuận) nhưng dự đoán tất cả các tổn thất có thể có’.

Điều này ngụ ý rằng tổn thất sẽ được xác định sớm hơn nhiều, trong khi việc ghi nhận lợi nhuận được hoãn lại cho đến khi đạt được lợi nhuận thực sự. Một ví dụ thường được trích dẫn của ACC là việc định giá thấp hơn so với giá trị thị trường của hàng tồn kho và chứng khoán kinh doanh. Đây chính là một trong những nội dung cụ thể trong thực hành kế toán của ACC, bởi vì tổn thất từ việc giảm giá trị thị trường (tổn thất) được ghi nhận trước khi hàng được bán, những lợi ích có được từ việc giá thị trường gia tăng thì không bao giờ được công nhận trước khi việc bán hàng được diễn ra. Ví dụ trên cũng thể hiện sự bất cân xứng trong việc ghi nhận thông tin xấu và thông tin tốt vào BCTC.

Hay nói cách khác, kế toán có nhiều khả năng báo cáo “thông tin xấu” về dòng tiền trong tương lai hơn là “thông tin tốt” (“thông tin xấu” được ghi nhận vào BCTC một cách kịp thời hơn). Các tổn thất chưa xảy ra thường được ghi nhận nhanh hơn vào kết quả kinh doanh so với những lợi ích dự kiến có được. Khái niệm Thận trọng được Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế đưa vào khuôn khổ lập và trình bày BCTC năm 1989 nhằm đảm bảo tính đáng tin cậy (Reliability) của thông tin kế toán. IASB giải thích về ACC là “một mức độ thận trọng trong việc đưa ra các ước tính cần thiết trong điều kiện không chắc chắn, như tài sản và thu nhập không được đánh quá quá cao và các khoản nợ, chi phí không được đánh giá thấp” (IASB, 1989, trang 37).

Trong các văn bản về kế toán được lưu giữ đã mô tả ACC rằng khi phải lựa chọn giữa hai hoặc nhiều kỹ thuật kế toán chấp nhận được thì ưu tiên lựa chọn kỹ thuật có tác động ít nhất đến vốn chủ sở hữu. Cụ thể hơn, ACC ngụ ý rằng tốt nhất là nên báo cáo giá trị thấp nhất có thể có của giá trị tài sản và doanh thu nhưng báo cáo giá trị cao nhất có thể có của nợ phải trả và chi phí (Belkaoui, 1985). Tuy nhiên trong một số trường hợp có thể xuất hiện sự xung đột giữa việc báo cáo thấp hơn giá trị lợi nhuận và việc báo cáo thấp hơn giá trị tài sản. Khi đó, các cân nhắc báo cáo thấp hơn giá trị lợi nhuận được ưu tiên hơn là đánh giá cao giá trị tài sản trong việc xác định liệu một phương pháp hoặc cách tiếp cận có thận trọng hay không (ARB 2, CAP, 1939).

ACC cũng được hiểu là doanh thu thì nên ghi nhận chậm (muộn) hơn so với ghi nhận trước, còn chi phí thì luan an 13 nên ghi nhận trước (Hendriksen & Van Breda, 1992). Ví dụ DN áp dụng phương pháp khấu hao nhanh sẽ làm cho chi phí khấu hao hàng tháng (hoặc năm) cao hơn, do đó thu nhập và giá trị còn lại của tài sản bị định giá thấp hơn trong thời gian tính khấu hao. Đây chính là sự bất cân xứng trong việc ghi nhận thông tin vì nó cho phép trong điều kiện không chắc chắn thì chỉ được ghi giảm giá trị tài sản thuần nhưng không được ghi tăng tài sản thuần nếu chưa có bằng chứng chắc chắn. Quan điểm này về ACC đã dẫn đến thường xuyên có những phê bình về ACC rằng ACC gây ra những sai lệch hoặc làm nhiễu loạn giá trị kế toán được báo cáo trong trường hợp kế toán áp dụng quá mức nguyên tắc này hoặc người sử dụng BCTC không có nhu cầu về ACC.

Bởi nếu thông tin kế toán do DN cung cấp không thể hiện được lợi ích tương lai DN có khả năng thu được hoặc trì hoãn ghi nhận lãi thì sẽ ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ cổ phiếu hoặc quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Khi đó cổ đông hoặc nhà đầu tư sẽ có thể sẽ đánh giá DN đang kinh doanh kém hiệu quả chỉ vì lợi nhuận tiềm năng chưa được ghi nhận. Ngoài ra, việc áp dụng nguyên tắc thận trọng ở kỳ này có thể gây ra hiện tượng tài sản và thu nhập bị thổi phồng ở kỳ sau, do đó ảnh hưởng đến tính hữu ích và trung lập của thông tin kế toán, hay nói cách khác có thể gây ra một sự thiên lệch trong BCTC. Tuy nhiên những lời phê bình này không giải thích được vì sao ACC không bị loại bỏ khỏi thực hành kế toán qua nhiều thế kỷ nếu nó thực sự làm giảm tính hữu ích của các con số kế toán.

Vì vậy mặc dù IASB khi sửa đổi Khung khái niệm vào năm 2010 đã đưa thận trọng ra khỏi các yêu cầu cơ bản của kế toán nhưng trong thực tế thì thận trọng vẫn hiện diện rất nhiều trong các nội dung của các chuẩn mực kế toán quốc tế cụ thể. Ngược lại Basu (1997) lập luận rằng ACC phát sinh từ nhu cầu ký kết hợp đồng (giao dịch) của người sử dụng BCTC bên ngoài DN và vai trò của ACC là làm tăng tính kịp thời của các con số kế toán đối với các thông tin. Đứng ở góc độ chi phí để ký kết hợp đồng giữa các bên trong DN đã giải thích lập luận này như sau: Trong trường hợp không chắc chắn về giá trị lợi nhuận trong tương lai, nhà quản lý thường có được những hiểu biết tường tận và đầy đủ về các hoạt động của DN cũng như giá trị của tài sản, trong khi đó những người bên ngoài DN như nhà đầu tư, cổ đông thiểu số, tổ chức tín dụng… thì phải mất thời gian cũng như chi phí để xác định được những thông tin này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Tác động của đặc điểm quản trị công ty đến nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Hữu Ánh, nghiên cứu về mối quan hệ giữa các đặc điểm quản trị công ty và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán. Bài viết chỉ ra rằng các yếu tố quản trị có thể ảnh hưởng đáng kể đến cách thức mà các công ty niêm yết thực hiện các nguyên tắc kế toán, từ đó tác động đến chất lượng thông tin tài chính mà họ công bố. Điều này không chỉ giúp các nhà đầu tư có cái nhìn rõ hơn về tình hình tài chính của công ty mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý tài chính.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến kế toán và quản trị, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á", nơi nghiên cứu về kiểm toán nội bộ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, một phần quan trọng trong quản lý tài chính. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trên báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức công bố thông tin tài chính và các yếu tố ảnh hưởng đến nó. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Nghiên cứu ảnh hưởng của dòng tiền hoạt động kinh doanh quá khứ đến dự báo dòng tiền tương lai trong ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam", một nghiên cứu liên quan đến dòng tiền và quản lý tài chính trong các công ty niêm yết. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến kế toán và quản trị trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam.