CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, những người sử dụng BCTC ngày càng có yêu cầu cao về tính minh bạch, trung thực, hợp lý của thông tin để họ có thể đưa ra các quyết định phù hợp. Một trong những cách thức giúp đạt được yêu cầu trên là thiết lập quản trị công ty một cách hiệu quả. Quản trị công ty hiệu quả cần các cơ chế hỗ trợ cho việc kiểm soát, giám sát hữu hiệu như: kiểm toán nội bộ (KTNB), ủy ban kiểm toán, kiểm toán độc lập. Trong đó, KTNB được xem là một trong những cơ chế giám sát quan trọng.
KTNB không những giúp tổ chức bảo vệ tài sản, đánh giá, tư vấn để đạt được mục tiêu, mà còn giúp gia tăng giá trị cho tổ chức. Trong những năm gần đây, khá nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện để tìm hiểu về các chủ đề liên quan đến KTNB, đặc biệt là chủ đề về ảnh hưởng của chất lượng IAF đến chất lượng BCTC dưới góc nhìn về hành vi quản trị lợi nhuận. Chương này trước hết trình bày tổng quan các nghiên cứu trước về chất lượng IAF, các nhân tố đo lường chất lượng IAF, các mô hình nhận dạng HVQTLN và ảnh hưởng của chất lượng IAF đến HVQTLN. Dựa trên kết quả tổng quan, luận án xác định khe hổng nghiên cứu.
Phần cuối chương sẽ đề xuất định hướng nghiên cứu cho luận án. Các nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của chất lượng hoạt động KTNB (IAF) đến hành vi quản trị lợi nhuận (HVQTLN).1 Các nghiên cứu về chất lượng hoạt động KTNB (IAF) Mặc dù, khá nhiều nghiên cứu về chất lượng IAF đã được tiến hành, nhưng cho đến nay định nghĩa chính thức về chất lượng IAF vẫn chưa được tìm thấy trong bất kỳ nghiên cứu hay chuẩn mực kiểm toán nào. Các chuẩn mực kiểm toán độc lập và KTNB (AICPA 1997, 2014; IAASB, 2012; PCAOB, 2010; IIA, 2017) đều nhấn mạnh năng lực chuyên môn, tính độc lập và khách quan là hai (02) nhân tố cơ bản tạo nên chất lượng IAF. Song hành với các quy định trong chuẩn mực kiểm toán, các nghiên cứu thực nghiệm của nhiều tác giả trên thế giới cũng thừa nhận rằng khi thực hiện kiểm toán, nếu KTV nội bộ đảm bảo năng lực chuyên môn và có tính độc lập, khách quan, IAF sẽ đạt được chất lượng (Gibbs & Schroeder, 1979, 1980; Clark et al., 1980; Brown, 1983; Abdel Khalik et al., 1983; Margheim, 1986; Messier & 9 Schneider, 1988; Schneider, 1984, 1985a, 1985b; Edge & Farley, 1991; Maletta, 1993; Gramling et al., 2004; Arena et al.1 Các nghiên cứu về năng lực chuyên môn của KTNB Năng lực chuyên môn của KTV nội bộ là thước đo quan trọng về chất lượng của IAF (Moeller, 2004).
Năng lực chuyên môn bao gồm kiến thức và kỹ năng mà người hành nghề cần có để thực hiện nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả nhất (Dubois & Rothwell, 2004). Chuẩn mực KTNB (IPPF) số 1200 cũng cho rằng “Proficiency and Due Professional Care Engagements must be performed with proficiency and due professional care”, nghĩa là kiểm toán viên nội bộ có năng lực tốt phải có kiến thức, kỹ năng và các năng lực khác cần thiết để thực hiện trách nhiệm của mình. Ủy ban giám sát công ty đại chúng Hoa Kỳ PCAOB (Public Company Accounting Oversight Board, 2010) cũng cho rằng năng lực chuyên môn được đo lường bằng kinh nghiệm, chứng chỉ nghề nghiệp, việc tham gia đào tạo hàng năm của các KTV nội bộ. Gibbs et al., (1979) và Clark et al., (1980) tìm hiểu đặc điểm của KTNB thông qua nghiên cứu thực nghiệm, kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực chuyên môn, kinh nghiệm của KTV nội bộ là yếu tố quyết định quan trọng nhất.
Brown (1983) nghiên cứu liệu các nhân tố xác lập theo hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán SAS 91 có đo lường được chất lượng IAF hay không? Tác giả sử dụng phương pháp gửi bảng câu hỏi khảo sát qua thư điện tử cho 120 kiểm toán viên thuộc các công ty kiểm toán Big 8. Dựa trên dữ liệu thu thập, tác giả tiến hành phân tích ANNOVA. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chứng chỉ nghề nghiệp là nhân tố quan trọng để đo lường năng lực chuyên môn của KTNB. Messier và Schneider (1988) sử dụng kết quả của các nghiên cứu trước và thực hiện khảo sát 22 giám đốc kiểm toán từ Big 8.
Dựa trên dữ liệu thu thập, nhóm tác giả đã tổng hợp và xây dựng một hệ thống các thuộc tính đo lường chất lượng IAF và kiểm định bằng Process Analytic để xác định thứ bậc quan trọng của các thuộc tính này. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy năng lực chuyên môn là thuộc 1 Statement audit standard No. 9 - The Effect of an Internal Audit Function on the Scope of the Independent Auditor's Examination. 10 tính quan trọng nhất để đo lường chất lượng IAF.
Năng lực chuyên môn được đo lường bằng kinh nghiệm và chứng chỉ nghề nghiệp của KTV nội bộ. Gramling và Myers (1997) nghiên cứu về quan điểm và nhận thức của các đối tượng trong, ngoài công ty và người hành nghề KTNB về lợi ích của bằng cấp chuyên môn. Đối tượng được khảo sát là trưởng ban KTNB, giám đốc tài chính và thành viên của HĐQT tại 200 CTNY Hoa Kỳ. Dựa trên kết quả khảo sát thu thập, Gramling và Myers tiến hành kiểm định và phân tích, kết quả cho thấy chứng chỉ KTV nội bộ (CIA) là yếu tố đo lường năng lực chuyên môn của KTV nội bộ.
Bhatti và Awan (2004) nghiên cứu vai trò của IAF trong việc cải thiện chất lượng sản phẩm ở Pakistan thông qua khảo sát 100 công ty được cấp chứng nhận ISO 9000. Kết quả cho thấy khoảng 70% công ty được khảo sát trả lời bộ phận KTNB chất lượng nếu có các nhân viên có năng lực chuyên môn tốt và đóng góp đáng kể vào việc giảm thiểu các khiếm khuyết sản phẩm tới 65%. Mối quan hệ tốt của kiểm toán viên nội bộ với đối tượng được kiểm toán cũng được nhấn mạnh là một yếu tố quan trọng đối với sự thành công của kiểm toán. Sarens et al., (2009) điều tra mối quan hệ giữa IAF và Ủy ban kiểm toán.
Nhóm tác giả thực hiện phỏng vấn các thành viên của Ủy ban kiểm toán và kiểm toán viên nội bộ từ bốn công ty ở Bỉ. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả phát hiện được rằng nếu kiểm toán viên nội bộ có năng lực chuyên môn (thông qua kỹ năng phù hợp), sẽ ảnh hưởng đến việc cải thiện kiểm soát nội bộ, điều này mang lại mức độ hài lòng đáng kể cho Ủy ban kiểm toán. Kỹ năng của kiểm toán viên nội bộ chịu ảnh hưởng bởi quá trình đào tạo, sự chuyên nghiệp và kinh nghiệm kiểm toán. Các kiểm toán viên lâu năm được xem là có chất lượng cao hơn các kiểm toán viên mới vào nghề (vì những người này cần có thời gian để tiếp thu và bổ sung kiến thức về công ty).
Van Staden et al., (2009) nghiên cứu về ảnh hưởng của năng lực chuyên môn (được đo lường thông qua kinh nghiệm và bằng cấp của trưởng ban KTNB) đến chất lượng IAF. Cách thức nghiên cứu của nhóm tác giả là thu thập và phân tích các dữ liệu khảo sát từ 30 trưởng ban KTNB làm việc tại các CTNY Nam Phi. Kết quả cho thấy chất 11 lượng IAF đo lường bằng năng lực chuyên môn thông qua kinh nghiệm, bằng cấp và chứng chỉ nghề nghiệp. Messier et al., (2011) cùng các cộng sự tiếp tục chủ đề nghiên cứu về chất lượng IAF nhưng dưới góc nhìn khác là xem xét KTNB như là một kênh đào tạo nhà quản lý tương lai.
Dựa trên mô hình của Prawitt et al., (2009), các tác giả đã điều chỉnh và tạo nên mô hình nghiên cứu mới. Sau đó, các tác giả tiến hành khảo sát 162 công ty Hoa Kỳ trong giai đoạn từ năm 2000 – 2005 với thang đo 11 điểm để thu thập dữ liệu cho phân tích hồi quy. Kết quả họ phát hiện rằng năng lực chuyên môn của KTNB cao, IAF càng đạt chất lượng cao. Bên cạnh đó, các tác giả cũng chỉ ra rằng KTV nội bộ đạt năng lực chuyên môn tốt khi họ có kinh nghiệm, có chứng chỉ nghề nghiệp và tham gia đào tạo hàng năm.
Khá nhiều nghiên cứu thực hiện chủ đề nghiên cứu này với phạm vi đa dạng hơn như: nghiên cứu của Kaplan (2007), Prawitt et al., (2009, 2012); Ege (2015) thực hiện tại Hoa Kỳ; Gros et al. Nghiên cứu của Prawitt et al., (2009), Ege (2015) còn phát hiện được rằng năng lực chuyên môn được đo lường bởi số giờ đào tạo hàng năm dành cho KTV nội bộ, và đây cũng là nhân tố ảnh hưởng chất lượng IAF. Thực hiện nghiên cứu tương tự trong bối cảnh khu vực công, kết quả các nhà nghiên cứu cũng cho thấy năng lực chuyên môn được xem là một nhân tố quan trọng đo lường chất lượng IAF. Chẳng hạn như: Nghiên cứu của Usman (2016) được thực hiện nhằm kiểm tra ảnh hưởng của năng lực, tính độc lập và khách quan, đến chất lượng IAF tại các văn phòng thanh tra khu vực.
Tác giả thực hiện khảo sát thông qua gửi bảng câu hỏi, kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực chuyên môn của kiểm toán viên nội bộ sẽ được tăng cường khi kiến thức, chuyên môn, kỹ năng, giáo dục và kinh nghiệm của họ được nâng cao. 12 Nghiên cứu của Nurdiono et al., (2018) nhằm tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của năng lực chuyên môn đối với chất lượng IAF và trách nhiệm giải trình tài chính của chính quyền địa phương tại tỉnh Lampung, Indonesia. Nghiên cứu được thực hiện với đối tượng khảo sát là tất các kiểm soát viên tại tỉnh Lampung. Sau đó, dữ liệu thu thập sẽ được phân tích bằng mô hình Path sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS).
Kết quả nghiên cứu chứng minh được rằng năng lực chuyên môn của KTNB có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng IAF. Đồng thời, chất lượng IAF ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến trách nhiệm giải trình tài chính của chính quyền địa phương Lampung. Nhóm tác giả cũng khẳng định năng lực chuyên môn của KTNB (đo lường thông qua trình độ giáo dục và kỹ năng) càng cao, chất lượng IAF càng cao. Điều này được thể hiện thông qua số lượng phát hiện của KTNB khi họ đáp ứng được năng lực chuyên môn tốt.2 Các nghiên cứu về tính độc lập và khách quan của KTNB Theo chuẩn mực KTNB (IPPF) số 1100 – Independence and Objectivity, the internal audit activity must be independent, and internal auditors must be objective in performing their work.