Tổng quan luận án
Báo cáo tài chính (BCTC) là nguồn thông tin then chốt phục vụ các quyết định kinh tế của nhà đầu tư và các bên liên quan trên thị trường chứng khoán. Trong các chỉ tiêu tài chính, lợi nhuận phản ánh trực tiếp năng lực quản lý và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, do xung đột lợi ích và sự bất đối xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu, nhà quản lý thường có động cơ điều chỉnh hoặc bóp méo thông tin lợi nhuận nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân hoặc giá trị ngắn hạn của doanh nghiệp. Hiện tượng này được xác định là hành vi quản trị lợi nhuận (HVQTLN) (Schipper, 1989; Ronen & Yaari, 2008). Khác với hành vi gian lận phi pháp, HVQTLN là hành vi mang tính chủ ý nhưng hợp pháp, được thực hiện thông qua việc lựa chọn các chính sách kế toán (CSKT) được chuẩn mực cho phép hoặc chi phối trực tiếp các nghiệp vụ kinh tế (NVKT) phát sinh (Gulzar & Wang, 2011). Dù không vi phạm pháp luật, HVQTLN làm suy giảm tính trung thực và độ tin cậy của BCTC, dẫn đến các quyết định phân bổ vốn sai lệch trên thị trường.
Để kiểm soát HVQTLN, quản trị công ty hiện đại thiết lập bốn cơ chế giám sát cốt lõi gồm: kiểm toán nội bộ (KTNB), ủy ban kiểm toán (UBKT), hội đồng quản trị (HĐQT) và kiểm toán độc lập (KTĐL) (IIA, 2017). Trong cấu trúc này, KTNB đóng vai trò giám sát, đánh giá và tư vấn thường xuyên nhằm ngăn ngừa các sai lệch thông tin tài chính (Brown & Pinello, 2007). Sau các sự cố tài chính lớn trên thế giới và sự ra đời của các đạo luật như Sarbanes-Oxley (SOX 2002) tại Hoa Kỳ, vai trò của KTNB ngày càng được luật hóa. Tại Việt Nam, sự ban hành của Nghị định 05/2019/NĐ-CP đã đặt ra khung pháp lý bắt buộc về việc thiết lập và thực thi hoạt động KTNB tại các công ty niêm yết. Mặc dù các nghiên cứu quốc tế đã ghi nhận chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ (IAFQ) có tác động hạn chế HVQTLN, tại Việt Nam vẫn chưa có công trình thực nghiệm nào kiểm tra toàn diện ảnh hưởng của IAFQ đến cả hai phương thức quản trị lợi nhuận (lựa chọn CSKT và chi phối NVKT phát sinh).
Mục tiêu nghiên cứu:
Luận án tập trung xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đo lường IAFQ đến HVQTLN được thực hiện thông qua lựa chọn CSKT và chi phối các NVKT phát sinh tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách và giải pháp nâng cao chất lượng KTNB nhằm giảm thiểu HVQTLN.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu 1: HVQTLN có xuất hiện tại các công ty niêm yết Việt Nam có thành lập bộ phận KTNB hay không?
- Câu 2: Các nhân tố đo lường IAFQ nào có ảnh hưởng đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT tại các công ty niêm yết Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố như thế nào?
- Câu 3: Các nhân tố đo lường IAFQ nào có ảnh hưởng đến HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh tại các công ty niêm yết Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố đo lường IAFQ, HVQTLN và mối quan hệ tác động giữa các nhân tố đo lường IAFQ đến HVQTLN.
- Phạm vi không gian: Các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), loại trừ các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ BCTC đã kiểm toán và Báo cáo thường niên (BCTN) trong giai đoạn 05 năm, từ năm 2014 đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu học thuật trong luận án bao quát các nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu tại Việt Nam từ năm 1979 đến năm 2019 xoay quanh các trụ cột: đo lường IAFQ, mô hình nhận diện HVQTLN, và tác động của IAFQ đến HVQTLN.
Các hướng nghiên cứu quốc tế
-
Nghiên cứu về các nhân tố cấu thành IAFQ:
Theo các chuẩn mực nghề nghiệp của AICPA (1997, 2014), IAASB (2012), PCAOB (2010) và IIA (2017), hai thuộc tính nền tảng của IAFQ là năng lực chuyên môn và tính độc lập, khách quan:
- Về năng lực chuyên môn: Gibbs & Schroeder (1979), Clark và cộng sự (1980), Brown (1983), Messier & Schneider (1988) khẳng định kinh nghiệm và chứng chỉ chuyên môn (như CIA, CPA) là thước đo trọng yếu của IAFQ. Gramling & Myers (1997) chỉ ra giá trị của chứng chỉ CIA tại các công ty niêm yết Hoa Kỳ. Bhatti & Awan (2004), Sarens và cộng sự (2009), Van Staden và cộng sự (2010), Messier và cộng sự (2011), Ege (2015) xác định số giờ đào tạo hàng năm, kỹ năng và thời gian công tác nâng cao năng lực giám sát của KTNB. Trong khu vực công, Usman (2016) và Nurdiono và cộng sự (2018) chứng minh năng lực chuyên môn của KTNB tác động thuận chiều đến trách nhiệm giải trình và chất lượng kiểm toán.
- Về tính độc lập và khách quan: Raghunandan và cộng sự (2001), Goodwin (2003), Christopher và cộng sự (2009), Prawitt và cộng sự (2009, 2012) nhấn mạnh tính độc lập phụ thuộc vào tuyến báo cáo chuyên môn trực tiếp của Trưởng ban KTNB lên UBKT hoặc HĐQT. Alzeban & Gwilliam (2013) nghiên cứu khu vực công tại Ả Rập Xê Út, khẳng định vị thế tổ chức của KTNB quyết định tính khách quan. Rose và cộng sự (2013) phát hiện khi KTNB bị xem là bước đệm thăng tiến lên ban điều hành, tính khách quan bị suy giảm. Glover và cộng sự (2008), Desai và cộng sự (2011) so sánh KTNB nội bộ và thuê ngoài, ghi nhận KTV độc lập đánh giá cao tính khách quan của dịch vụ KTNB thuê ngoài.
-
Nghiên cứu về mô hình đo lường HVQTLN:
- Lựa chọn CSKT (Accrual-based Earnings Management - EM): Healy (1985) đặt nền móng với biến dồn tích trong vốn lưu động; DeAngelo (1986) phát triển mô hình biến dồn tích điều chỉnh; Jones (1991) kiểm soát biến động doanh thu và tài sản cố định; Dechow, Sloan & Sweeney (1995) hoàn thiện mô hình Modified Jones bằng cách loại trừ nợ phải thu; Dechow & Dichev (2002), Palepu, Healy & Bernard (2003) bổ sung dòng tiền hoạt động; Kothari, Leone & Wasley (2005) kiểm soát thêm hiệu quả hoạt động qua chỉ tiêu ROA. Ngoài ra, các tác giả như McNichols & Wilson (1988), Beaver & Engel (1996), Stubben (2010), Dechow và cộng sự (2012) tiếp tục mở rộng các cách tiếp cận ước tính biến dồn tích cụ thể.
- Chi phối các NVKT phát sinh (Real Earnings Management - REM): Mô hình nền tảng do Dechow, Kothari & Watts (1998) thiết lập và được Roychowdhury (2006) thực nghiệm hóa thông qua ba biểu hiện bất thường: dòng tiền hoạt động bất thường ($Ab_CFO$), chi phí sản xuất bất thường ($Ab_PROD$), và chi phí tùy biến bất thường ($Ab_DiscEXP$). Cohen, Dey & Lys (2008) điều chỉnh mô hình chi phí tùy biến bằng doanh thu năm trước; Zang (2011), Cohen và cộng sự (2010) tiếp tục ứng dụng đo lường REM.
-
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa IAFQ và HVQTLN:
Uecker và cộng sự (1981), Prawitt, Smith & Wood (2009) chứng minh chỉ số tổng hợp IAFQ có quan hệ nghịch chiều với biến dồn tích điều chỉnh. Lin và cộng sự (2011) chỉ ra IAFQ hạn chế sai sót trọng yếu theo SOX 404. Schneider (2013) tìm thấy bằng chứng KTNB chất lượng làm giảm REM thông qua việc kiểm soát sản xuất thừa. Ege (2015), Eya và cộng sự (2015), Abbott và cộng sự (2016), Amuchirai (2018), Puspa (2015), Yu và cộng sự (2019) đều khẳng định các thuộc tính của KTNB giúp giảm thiểu hành vi thao túng thông tin và nâng cao chất lượng BCTC. Tại thị trường mới nổi Malaysia, Johl và cộng sự (2013) ghi nhận IAFQ tác động tích cực đến chất lượng BCTC.
Các nghiên cứu tại Việt Nam
- Về kiểm toán nội bộ: Nguyễn Thị Hồng Thúy (2010) nghiên cứu KTNB trong các tập đoàn kinh tế; Lê Thị Thu Hà (2011) khảo sát KTNB tại các công ty tài chính; Nguyễn Thị Thu Thủy (2016) phân tích kinh nghiệm quốc tế về tổ chức KTNB trong công ty đại chúng; Nguyễn Thị Khánh Vân (2018) tổng kết thực trạng và đề xuất ba mô hình tổ chức bộ phận KTNB (trực thuộc Tổng Giám đốc, trực thuộc Ban Kiểm soát, hoặc nằm trong phòng kế toán công ty mẹ). Các nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở góc độ mô tả cơ cấu tổ chức, chưa đo lường định lượng IAFQ.
- Về hành vi quản trị lợi nhuận: Nguyễn Thị Minh Trang (2012) áp dụng mô hình DeAngelo và Friedlan; Phạm Thị Bích Vân (2012) khảo sát mô hình Modified Jones trên sàn HOSE; Trần Thị Thu Thảo (2014) nghiên cứu đặc điểm KTV độc lập tác động đến HVQTLN; Trần Thị Mỹ Tú (2014) khảo sát HĐQT và kiểm toán độc lập; Nguyễn Trọng Nguyên (2015) kiểm định mô hình Modified Jones với 1.068 quan sát, chứng minh quy mô, ROA, sở hữu quản lý ảnh hưởng đến biến dồn tích điều chỉnh; Mai Thị Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015) nghiên cứu động cơ thuế; Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), Ngô Hoàng Điệp (2018) phân tích quản trị công ty; Nguyễn Thị Phượng Loan và Nguyễn Minh Thao (2016) nhận diện ba hình thức REM trên TTCK Việt Nam.
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu |
Phát hiện chính và phương pháp tiếp cận |
| IAFQ quốc tế |
Prawitt et al. (2009), Lin et al. (2011), Ege (2015), Johl et al. (2013) |
Đo lường IAFQ qua năng lực, tính độc lập, kiểm soát chất lượng; chứng minh IAFQ làm giảm gian lận và EM. |
| Đo lường HVQTLN |
Dechow et al. (1995), Kothari et al. (2005), Roychowdhury (2006) |
Thiết lập mô hình Modified Jones bổ sung ROA (đo lường EM) và mô hình 3 dòng chi phí/dòng tiền bất thường (đo lường REM). |
| KTNB tại Việt Nam |
Nguyễn Thị Hồng Thúy (2010), Lê Thị Thu Hà (2011), Nguyễn Thị Khánh Vân (2018) |
Phân tích định tính thực trạng tổ chức bộ máy KTNB và các rào cản về nguồn lực trong doanh nghiệp Việt Nam. |
| HVQTLN tại Việt Nam |
Trần Thị Mỹ Tú (2014), Nguyễn Trọng Nguyên (2015), Nguyễn Thị Phượng Loan & Nguyễn Minh Thao (2016) |
Xác nhận sự tồn tại của cả EM và REM trên sàn HOSE/HNX chịu ảnh hưởng từ đặc điểm quản trị và thuế. |
Khoảng trống nghiên cứu của luận án
- Các công trình tại Việt Nam trước đây chỉ tập trung khảo sát nhận diện HVQTLN hoặc kiểm tra ảnh hưởng của HĐQT, Ban Kiểm soát, KTĐL; chưa có nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tác động của IAFQ đến HVQTLN.
- Các nghiên cứu quốc tế thường chỉ kiểm tra riêng rẽ hoặc EM hoặc REM; chưa tích hợp đánh giá đầy đủ tác động của từng nhân tố cấu thành IAFQ lên đồng thời cả hai phương thức quản trị lợi nhuận trong bối cảnh thị trường mới nổi tại Việt Nam.
- Cần bổ sung và chuẩn hóa mô hình các nhân tố đo lường IAFQ thích ứng với thực tiễn các công ty niêm yết Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết nền tảng
Luận án sử dụng sáu lý thuyết nền tảng nhằm giải thích cơ chế tác động của IAFQ đối với HVQTLN:
- Lý thuyết bất đối xứng thông tin (Information Asymmetry Theory): Giải thích khoảng cách thông tin giữa nhà quản lý điều hành và các cổ đông bên ngoài. Nhà quản lý tận dụng ưu thế thông tin để can thiệp vào BCTC, trong khi KTNB đóng vai trò thu hẹp khoảng cách này thông qua hoạt động xác minh và kiểm soát nội bộ thường xuyên.
- Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Phân tích mâu thuẫn lợi ích giữa bên ủy nhiệm (cổ đông) và bên nhận ủy nhiệm (nhà quản lý). KTNB là công cụ giám sát nội bộ giúp giảm thiểu chi phí đại diện và hạn chế hành vi trục lợi của người đại diện.
- Lý thuyết kiểm toán nội bộ (Internal Audit Theory): Cung cấp cơ sở về bản chất, chức năng bảo đảm và tư vấn khách quan của KTNB nhằm nâng cao giá trị và hiệu quả quản trị rủi ro của tổ chức.
- Lý thuyết các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Stakeholder Theory): Khẳng định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin tài chính trung thực không chỉ cho cổ đông mà còn cho chủ nợ, người lao động, cơ quan quản lý và đối tác kinh doanh.
- Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory): Nhấn mạnh bộ phận KTNB cần được cung cấp đầy đủ nguồn lực (nhân sự, ngân sách, đào tạo) để đảm bảo chất lượng hoạt động.
- Lý thuyết hành vi quản lý (Managerial Behavior Theory): Giải thích động cơ tâm lý và hành vi của nhà quản lý khi đứng trước các áp lực về chỉ tiêu lợi nhuận, kế hoạch kinh doanh hoặc thù lao.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng:
-
Giai đoạn định tính:
- Phương pháp: Nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Kế toán, Luật Kiểm toán, Nghị định 05/2019/NĐ-CP, Thông tư quản trị công ty) kết hợp thảo luận, phỏng vấn sâu với các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán.
- Mục tiêu: Nhận diện, điều chỉnh và xác lập 05 nhân tố đo lường IAFQ phù hợp với đặc thù quản trị của các công ty niêm yết Việt Nam.
-
Giai đoạn định lượng:
- Mẫu nghiên cứu: Thu thập từ 92 công ty niêm yết trên HOSE và HNX có tổ chức bộ phận KTNB đáp ứng đủ dữ liệu trong 05 năm (2014–2018), tạo thành bộ dữ liệu bảng cân bằng gồm 460 quan sát ($92 \times 5$).
- Nguồn dữ liệu: BCTC kiểm toán, BCTN, Báo cáo tình hình quản trị công ty được công bố công khai.
Mô hình và thang đo các biến
1. Đo lường biến phụ thuộc (HVQTLN):
- Mô hình 1 - HVQTLN qua lựa chọn CSKT ($EM$): Đo lường bằng giá trị tuyệt đối của biến dồn tích điều chỉnh ($|DA_{it}|$), ước tính thông qua mô hình Modified Jones (Dechow et al., 1995) kết hợp kiểm soát ROA của Kothari et al. (2005):
$$\frac{TA_{it}}{A_{it-1}} = \alpha_1 \frac{1}{A_{it-1}} + \alpha_2 \frac{\Delta REV_{it} - \Delta AR_{it}}{A_{it-1}} + \alpha_3 \frac{PPE_{it}}{A_{it-1}} + \alpha_4 ROA_{it} + \epsilon_{it}$$
Trong đó: $TA_{it}$ là tổng biến dồn tích; $A_{it-1}$ là tổng tài sản đầu kỳ; $\Delta REV_{it}$ là biến động doanh thu; $\Delta AR_{it}$ là biến động khoản phải thu; $PPE_{it}$ là nguyên giá TSCĐ; $ROA_{it}$ là tỷ suất sinh lời trên tài sản. Biến dồn tích điều chỉnh $DA_{it}$ là phần dư của mô hình.
- Mô hình 2 - HVQTLN qua chi phối NVKT phát sinh ($REM$): Đo lường bằng tổng độ lệch chuẩn hóa của ba đại lượng bất thường theo Dechow et al. (1998), Roychowdhury (2006) và Cohen et al. (2008):
$$REM_{it} = (-1 \times Ab_CFO_{it}) + Ab_PROD_{it} + (-1 \times Ab_DiscEXP_{it})$$
Trong đó: $Ab_CFO$ là dòng tiền hoạt động bất thường; $Ab_PROD$ là chi phí sản xuất bất thường; $Ab_DiscEXP$ là chi phí tùy biến bất thường.
2. Các biến độc lập đo lường IAFQ (05 nhân tố):
- Tính độc lập và khách quan ($INDEP$): Đo lường qua tuyến báo cáo trực tiếp của Trưởng ban KTNB cho UBKT/HĐQT và quyền hạn tổ chức.
- Năng lực chuyên môn ($COMP$): Đo lường qua kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, chứng chỉ nghề nghiệp (CPA, CIA, CFE) và số giờ đào tạo của nhân sự KTNB.
- Kiểm soát IAFQ ($QC$): Đo lường thông qua việc thiết lập chương trình đánh giá, kiểm soát chất lượng hoạt động KTNB định kỳ.
- Quy mô KTNB ($SIZE_IA$): Đo lường bằng số lượng nhân viên chuyên trách thuộc bộ phận KTNB.
- Chất lượng KTĐL ($BIG4$): Biến giả nhận giá trị 1 nếu công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán Big 4, nhận giá trị 0 nếu ngược lại.
3. Quy trình phân tích dữ liệu:
Dữ liệu bảng được xử lý tuần tự qua các mô hình hồi quy: Pooled OLS, Mô hình tác động cố định (FEM), và Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Luận án thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình (F-test, Breusch-Pagan LM test, Hausman test) và kiểm định các khuyết tật mô hình (đa cộng tuyến qua hệ số VIF, phương sai sai số thay đổi qua White/Modified Wald test, tự tương quan qua Wooldridge test, phân phối chuẩn của phần dư), sau đó áp dụng phương pháp hiệu chỉnh phù hợp để đưa ra kết quả ước lượng vững.
Nội dung chính theo từng chương
Chương Mở đầu
Chương Mở đầu thiết lập cơ sở khoa học của toàn bộ đề tài:
- Trình bày tính cấp thiết xuất phát từ thực trạng bóp méo thông tin BCTC trên TTCK Việt Nam và yêu cầu pháp lý bắt buộc thiết lập KTNB theo Nghị định 05/2019/NĐ-CP.
- Xác định mục tiêu tổng quát, 03 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu (IAFQ, HVQTLN và mối quan hệ giữa chúng), và phạm vi nghiên cứu (92 công ty niêm yết trên HOSE/HNX giai đoạn 2014–2018).
- Nêu tóm tắt phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn, cùng kết cấu 05 chương của luận án.
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước:
- Phân tích các công trình nghiên cứu quốc tế về đo lường IAFQ thông qua năng lực chuyên môn và tính độc lập khách quan (Gibbs & Schroeder, 1979; Brown, 1983; Messier & Schneider, 1988; Prawitt et al., 2009).
- Rà soát các mô hình đo lường HVQTLN qua lựa chọn CSKT (Healy, 1985; DeAngelo, 1986; Jones, 1991; Dechow et al., 1995; Kothari et al., 2005) và qua chi phối NVKT phát sinh (Dechow et al., 1998; Roychowdhury, 2006; Cohen et al., 2008).
- Điểm luận các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa IAFQ và HVQTLN (Prawitt et al., 2009; Lin et al., 2011; Ege, 2015; Abbott et al., 2016).
- Tổng hợp các công trình tại Việt Nam về thực trạng tổ chức KTNB (Nguyễn Thị Hồng Thúy, 2010; Nguyễn Thị Thu Thủy, 2016; Nguyễn Thị Khánh Vân, 2018) và các nghiên cứu về HVQTLN (Trần Thị Mỹ Tú, 2014; Nguyễn Trọng Nguyên, 2015; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016; Nguyễn Thị Phượng Loan & Nguyễn Minh Thao, 2016).
- Xác định rõ khe hổng nghiên cứu về tác động của IAFQ đến cả EM và REM tại Việt Nam, làm tiền đề xây dựng hướng nghiên cứu của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết phân tích cho luận án:
- Phân tích lịch sử hình thành, sự cần thiết khách quan của KTNB trong quản trị công ty hiện đại và yêu cầu tuân thủ chuẩn mực quốc tế IPPF.
- Định nghĩa và chuẩn hóa các khái niệm nền tảng: KTNB, chất lượng hoạt động KTNB (IAFQ), hành vi quản trị lợi nhuận (định nghĩa, phân loại thành EM và REM), và các khoản dồn tích kế toán.
- Luận giải sáu lý thuyết nền tảng: Lý thuyết bất đối xứng thông tin, Lý thuyết đại diện, Lý thuyết kiểm toán nội bộ, Lý thuyết các bên liên quan, Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, và Lý thuyết hành vi quản lý để xây dựng mối liên kết logic giữa chất lượng giám sát của KTNB với hành vi điều chỉnh lợi nhuận của ban điều hành.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế và quy trình nghiên cứu:
- Thiết lập khung nghiên cứu và sơ đồ quy trình nghiên cứu hỗn hợp 2 giai đoạn (Hình 3.1).
- Trình bày kết quả nghiên cứu định tính: hệ thống hóa văn bản pháp luật Việt Nam (Bảng 3.1) và tham vấn chuyên gia để định hình 05 nhân tố đo lường IAFQ.
- Trình bày thiết kế nghiên cứu định lượng: phương pháp chọn mẫu 92 công ty (460 quan sát) thuộc các nhóm ngành niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2014–2018 (Bảng 3.2, Bảng 3.3).
- Xây dựng 02 mô hình hồi quy đa biến chính thức (Mô hình 1 cho EM và Mô hình 2 cho REM), xác lập hệ thống giả thuyết nghiên cứu (Bảng 3.5), thang đo các biến độc lập (Bảng 3.6), và thang đo các biến kiểm soát (Bảng 3.7).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 công bố toàn bộ kết quả phân tích thực nghiệm:
- Thống kê mô tả thực trạng HVQTLN tại các công ty niêm yết có tổ chức KTNB giai đoạn 2014–2018 thông qua bảng biến thiên giá trị EM (Bảng 4.1 đến Bảng 4.6, Hình 4.1) và giá trị REM (Bảng 4.7 đến Bảng 4.12, Hình 4.2).
- Thống kê mô tả các biến đo lường IAFQ (Bảng 4.14) và ma trận tương quan giữa các biến (Bảng 4.15, Bảng 4.16).
- Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình (so sánh Pooled OLS, FEM, REM qua Bảng 4.18 - Bảng 4.21 và Bảng 4.26 - Bảng 4.29) và các kiểm định khuyết tật mô hình (đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan, phân phối chuẩn phần dư qua Bảng 4.22, 4.23, 4.30, 4.31, Hình 4.3, 4.4).
- Kết quả hồi quy đa biến của Mô hình 1 (Bảng 4.24) và Mô hình 2 (Bảng 4.32), tổng hợp kiểm định các giả thuyết (Bảng 4.34, Bảng 4.35) và bàn luận chi tiết về kết quả.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các phát hiện và đưa ra các kiến nghị thực tế:
- Đề xuất các hàm ý chính sách đối với quản trị công ty: trách nhiệm của HĐQT trong việc bảo đảm tính độc lập cho KTNB, và các giải pháp tổ chức bộ phận KTNB (tăng cường nhân sự, đào tạo chuyên môn, chứng chỉ quốc tế, xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng nội bộ).
- Đề xuất hàm ý đối với kiểm toán độc lập: xem xét các nhân tố cấu thành IAFQ để xác định phạm vi, thời gian và mức độ dựa vào công việc của KTNB theo chuẩn mực kiểm toán.
- Đề xuất hàm ý đối với cơ quan chức năng quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): hoàn thiện khung pháp lý, ban hành hướng dẫn thực thi Nghị định 05/2019/NĐ-CP và chuẩn mực KTNB Việt Nam.
- Nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và định hướng cho các công trình tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Kết quả phân tích hồi quy trên mẫu 460 quan sát tại các công ty niêm yết Việt Nam giai đoạn 2014–2018 khẳng định:
- HVQTLN (cả thông qua lựa chọn CSKT và chi phối NVKT phát sinh) vẫn xuất hiện tại các công ty niêm yết đã thành lập bộ phận KTNB.
- Đối với mô hình HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT ($EM$): Toàn bộ 05 nhân tố đo lường IAFQ đều có tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê đến mức độ quản trị lợi nhuận dồn tích. Thứ tự mức độ tác động từ cao xuống thấp gồm:
- Chất lượng KTĐL ($BIG4$)
- Tính độc lập và khách quan ($INDEP$)
- Kiểm soát IAFQ ($QC$)
- Năng lực chuyên môn ($COMP$)
- Quy mô KTNB ($SIZE_IA$)
- Đối với mô hình HVQTLN thông qua chi phối NVKT phát sinh ($REM$): Có 04 trên 05 nhân tố đo lường IAFQ có tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê đến hành vi quản trị lợi nhuận thực tế. Thứ tự mức độ tác động từ cao xuống thấp gồm:
- Tính độc lập và khách quan ($INDEP$)
- Kiểm soát IAFQ ($QC$)
- Quy mô KTNB ($SIZE_IA$)
- Năng lực chuyên môn ($COMP$)
(Nhân tố Chất lượng KTĐL không có tác động có ý nghĩa thống kê đối với REM).
| Nhân tố đo lường IAFQ |
Tác động đến EM (Mô hình 1) |
Tác động đến REM (Mô hình 2) |
| Chất lượng KTĐL ($BIG4$) |
Ngược chiều (-) (Mức độ 1) |
Không có ý nghĩa thống kê |
| Tính độc lập và khách quan ($INDEP$) |
Ngược chiều (-) (Mức độ 2) |
Ngược chiều (-) (Mức độ 1) |
| Kiểm soát IAFQ ($QC$) |
Ngược chiều (-) (Mức độ 3) |
Ngược chiều (-) (Mức độ 2) |
| Năng lực chuyên môn ($COMP$) |
Ngược chiều (-) (Mức độ 4) |
Ngược chiều (-) (Mức độ 4) |
| Quy mô KTNB ($SIZE_IA$) |
Ngược chiều (-) (Mức độ 5) |
Ngược chiều (-) (Mức độ 3) |
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Tổng quan có hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước từ năm 1979 đến năm 2019 về mối quan hệ giữa IAFQ và hai phương thức HVQTLN, tạo lập hệ thống tài liệu tham khảo cho chuyên ngành kế toán - kiểm toán tại Việt Nam.
- Xây dựng và kiểm định thành công mô hình 05 nhân tố đo lường IAFQ trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam, bổ sung ba nhân tố mới so với các nghiên cứu trước đây là: quy mô KTNB, chất lượng KTĐL và kiểm soát IAFQ.
- Chứng minh bằng thực nghiệm rằng IAFQ có khả năng kiềm chế đồng thời cả hai phương thức quản trị lợi nhuận (EM và REM), làm rõ sự khác biệt về mức độ tác động của từng nhân tố đối với từng phương thức.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp HĐQT và ban điều hành công ty niêm yết nhận diện các thuộc tính ưu tiên cần đầu tư (đặc biệt là bảo đảm tính độc lập của KTNB và thiết lập quy trình kiểm soát chất lượng) để nâng cao độ tin cậy của BCTC.
- Cung cấp tiêu chuẩn thực tế cho KTV độc lập trong việc đánh giá và quyết định mức độ dựa vào công việc của KTNB khi tiến hành kiểm toán BCTC.
- Cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết triển khai Nghị định 05/2019/NĐ-CP, chuẩn mực thực hành KTNB chuyên nghiệp và cơ chế giám sát tuân thủ đối với công ty niêm yết.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về mẫu nghiên cứu: Giới hạn ở 92 công ty niêm yết trên HOSE và HNX có tổ chức KTNB trong giai đoạn 2014–2018 và loại trừ nhóm ngân hàng, tổ chức tài chính tín dụng do có đặc thù kế toán riêng.
- Về nguồn dữ liệu: Dữ liệu về KTNB thu thập chủ yếu từ BCTN và BCTC kiểm toán công bố công khai; tại thời điểm nghiên cứu, mức độ công bố chi tiết về hoạt động KTNB của các doanh nghiệp Việt Nam còn ở mức độ nhất định.
- Về phạm vi thời gian: Nghiên cứu kết thúc tại năm tài chính 2018, là giai đoạn trước khi Nghị định 05/2019/NĐ-CP chính thức có hiệu lực bắt buộc toàn diện.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang giai đoạn sau khi Nghị định 05/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành để so sánh sự thay đổi về chất lượng KTNB trước và sau khi có khung pháp lý bắt buộc.
- Khảo sát bổ sung các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp nhà nước, công ty chưa niêm yết hoặc các định chế tài chính - ngân hàng.
- Bổ sung phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua bảng câu hỏi khảo sát diện rộng gửi trực tiếp đến các KTV nội bộ để đánh giá sâu hơn các khía cạnh vi mô trong quy trình kiểm toán.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung lý thuyết toàn diện về 06 lý thuyết nền tảng quản trị, quy trình nghiên cứu hỗn hợp, phương pháp ước tính biến dồn tích điều chỉnh qua mô hình Modified Jones kết hợp ROA, và kỹ thuật đo lường ba biến bất thường trong quản trị lợi nhuận thực tế.
- Hội đồng quản trị và Ban Tổng Giám đốc các công ty niêm yết: Cung cấp cơ sở định lượng để phân bổ nguồn lực, thiết lập vị thế tổ chức độc lập cho Trưởng ban KTNB trực thuộc UBKT/HĐQT, và ban hành quy trình kiểm soát chất lượng KTNB nhằm bảo vệ giá trị doanh nghiệp.
- Kiểm toán viên độc lập: Cung cấp các tiêu chí nhận diện IAFQ phục vụ việc đánh giá rủi ro kiểm soát và xác định phạm vi kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 610.
- Cơ quan quản lý thị trường (Bộ Tài chính, UBCKNN): Cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ công tác xây dựng chính sách, chuẩn hóa chuẩn mực thực hành KTNB và tăng cường tính minh bạch trên TTCK Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những mô hình nào để đo lường hai phương thức hành vi quản trị lợi nhuận?
Luận án sử dụng mô hình Modified Jones của Dechow et al. (1995) kết hợp kiểm soát ROA của Kothari et al. (2005) để ước tính biến dồn tích điều chỉnh ($|DA_{it}|$) đại diện cho HVQTLN qua lựa chọn CSKT ($EM$). Đối với HVQTLN qua chi phối NVKT phát sinh ($REM$), luận án sử dụng mô hình của Dechow et al. (1998), Roychowdhury (2006) và Cohen et al. (2008), tính tổng 3 đại lượng bất thường: dòng tiền hoạt động bất thường ($Ab_CFO$), chi phí sản xuất bất thường ($Ab_PROD$) và chi phí tùy biến bất thường ($Ab_DiscEXP$).
2. Năm nhân tố đo lường chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ (IAFQ) trong luận án gồm những nhân tố nào?
Năm nhân tố gồm: (1) Tính độc lập và khách quan ($INDEP$); (2) Năng lực chuyên môn ($COMP$); (3) Kiểm soát IAFQ ($QC$); (4) Quy mô KTNB ($SIZE_IA$); và (5) Chất lượng kiểm toán độc lập ($BIG4$).
3. Thứ tự mức độ ảnh hưởng của các nhân tố IAFQ đến HVQTLN qua lựa chọn CSKT (EM) được xếp như thế nào?
Cả 05 nhân tố đều có ảnh hưởng ngược chiều đến EM theo thứ tự mức độ giảm dần: (1) Chất lượng KTĐL, (2) Tính độc lập và khách quan, (3) Kiểm soát IAFQ, (4) Năng lực chuyên môn, và (5) Quy mô KTNB.
4. Nhân tố nào tác động đến EM nhưng không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến REM?
Nhân tố Chất lượng kiểm toán độc lập ($BIG4$) có tác động ngược chiều mạnh nhất đến EM nhưng không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đối với REM. Đối với REM, 04 nhân tố có tác động ngược chiều gồm Tính độc lập và khách quan, Kiểm soát IAFQ, Quy mô KTNB và Năng lực chuyên môn.
5. Cỡ mẫu và giai đoạn thu thập dữ liệu định lượng của luận án là bao nhiêu?
Mẫu nghiên cứu định lượng gồm 92 công ty niêm yết trên HOSE và HNX có tổ chức bộ phận KTNB, được thu thập liên tục trong 05 năm tài chính từ năm 2014 đến năm 2018, hình thành bộ dữ liệu bảng cân bằng với tổng cộng 460 quan sát.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tăng Thị Thanh Thủy là công trình nghiên cứu thực nghiệm toàn diện về ảnh hưởng của chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp với bộ dữ liệu bảng gồm 460 quan sát giai đoạn 2014–2018, tác giả chứng minh các nhân tố độc lập, khách quan, kiểm soát chất lượng, năng lực chuyên môn, quy mô KTNB và chất lượng KTĐL có tác động kiềm chế có ý nghĩa thống kê đối với cả hai hình thức quản trị lợi nhuận qua chính sách kế toán và qua nghiệp vụ kinh tế. Kết quả nghiên cứu bổ sung cơ sở lý luận về mô hình 05 nhân tố đo lường IAFQ trong bối cảnh thị trường mới nổi, đồng thời cung cấp hàm ý thực tiễn quan trọng cho doanh nghiệp niêm yết, kiểm toán viên và các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện khung khổ pháp lý về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam.