CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CLKT VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Mục đích chương này là hệ thống các nghiên cứu về CLKT trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu của Luận án. Chương này gồm ba phần. Phần 1, trình bày tổng quan các nghiên cứu trên thế giới. Phần 2, trình bày tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam.
Phần 3, xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu. Mỗi một phần này sẽ được trình bày dưới đây.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI Trên thế giới các nghiên cứu về CLKT được thực hiện rất nhiều. Khởi đầu từ nghiên cứu của DeAngelo (1981), trong hơn 36 năm qua các nghiên cứu về lĩnh vực này không ngừng phát triển. Kết quả tìm kiếm chủ đề CLKT (từ khoá “audit quality”) trong Google Scholar, cho thấy số lượng bài báo được công bố tăng lên rất nhiều sau mỗi năm và nhất là trong hơn 10 năm gần đây.
Số lượng bài báo công bố trong mỗi giai đoạn 5 năm được thống kê tại hình 1.1 – Số lượng bài báo về CLKT trong mỗi giai đoạn. 11 Bên cạnh các nghiên cứu hàn lâm, các nghiên cứu của tổ chức nghề nghiệp cũng được tiến hành và công bố trong hơn 10 năm qua. Điển hình, vào năm 2006 FRC ban hành bản thảo luận về thúc đẩy CLKT có tiêu đề “Promoting Audit Quality”. Năm 2007, IFAC phát hành hướng dẫn thực hành có tiêu đề “Tone at Top and Audit Quality”.
Năm 2009, IAASB công bố chuẩn mực “Kiểm soát chất lượng cuộc kiểm toán BCTC” (ISA 220), và chuẩn mực “Kiểm soát chất lượng đối với các DN kiểm toán thực hiện kiểm toán và soát xét BCTC, dịch vụ đảm bảo và các dịch vụ liên quan khác” (ISQC1). Năm 2012, PCAOB triển khai dự án phát triển các công cụ đo lường CLKT. Danh mục các chỉ báo về CLKT (AQI) được cập nhật trong các báo cáo qua các năm 2013, 2014, 2015 của PCAOB, và cho đến nay dự án vẫn trong quá trình thực hiện. Và gần đây nhất, vào năm 2014 IAASB đã công bố Khuôn mẫu CLKT (Framework for Audit Quality).
Nhìn chung nghiên cứu về CLKT tập trung vào hai hướng nghiên cứu chính, đó là: • Phân tích tương quan: Phân tích quan hệ giữa CLKT với các nhân tố tác động đến CLKT. Trong các nghiên cứu này, CLKT là một biến phụ thuộc được đo lường bằng các phương pháp khác nhau. Các biến độc lập có thể là một biến, có thể là nhiều biến. Nghiên cứu này có phân thành hai hướng tiếp cận nhỏ hơn: − CLKT với chất lượng sản phẩm (đầu ra) của kiểm toán.
− CLKT với các đặc điểm của công ty kiểm toán. Hướng nghiên cứu tương quan chủ yếu do giới học thuật thực hiện. • Phân tích nhân tố: Phân tích các yếu tố cấu thành khái niệm CLKT để hình thành một khung CLKT. Vì vậy, trong các nghiên cứu này, CLKT không được đo lường bằng biến phụ thuộc.
Nghiên cứu này có các hướng tiếp cận nhỏ hơn: − Theo các yếu tố thuộc thuộc tính công ty kiểm toán và KTV. − Theo các yếu tố cấu thành chất lượng quy trình kiểm toán. − Theo các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ. − Theo các yếu tố chất lượng của tổng thể hoạt động kiểm toán.
12 Các nghiên cứu hướng phân tích nhân tố được thực hiện bởi cả giới học thuật và các tổ chức nghề nghiệp. Các tổ chức nghề nghiệp quan tâm nhiều đến hướng nghiên cứu này vì nó giúp hoạch định chính sách và xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá CLKT. Ngoài hai hướng nghiên cứu chính là phân tích tương quan và phân tích nhân tố, còn có một số hướng nghiên cứu khác về CLKT, như nghiên cứu về sự khác biệt giữa quan điểm các bên liên quan về CLKT, hay nghiên cứu tổng quan về CLKT,. Để phục vụ cho đề tài của Luận án, tác giả hệ thống và trình bày các nghiên cứu về CLKT theo hai hướng nghiên cứu chính, phân tích tương quan và phân tích nhân tố.2 trình bày sơ đồ tổng quát các hướng nghiên cứu về CLKT.1 Hướng nghiên cứu phân tích tương quan Có hai nhánh nghiên cứu nhỏ trong hướng nghiên cứu phân tích tương quan về CLKT.
Nhánh nghiên cứu thứ nhất phân tích mối quan hệ giữa CLKT với chất lượng đầu ra của kiểm toán. Hướng nghiên cứu này cố gắng tìm kiếm các đại diện (proxy) để có thể đo lường trực tiếp hay gián tiếp chất lượng đầu ra của kiểm toán. Nhánh nghiên cứu thứ hai phân tích mối quan hệ giữa CLKT với các đặc điểm của công ty kiểm toán. Mỗi nhánh trong nghiên cứu phân tích tương quan sẽ được trình bày chi tiết ở phần tiếp theo dưới đây.1Mối quan hệ giữa CLKT với chất lượng đầu ra Theo định nghĩa của DeAngelo (1981, p.186), thì: “CLKT là sự đánh giá khả năng mà KTV sẽ đưa ra cả (a) phát hiện hành vi vi phạm trong hệ thống kế toán của khách hàng, và (b) báo cáo vi phạm”, như vậy CLKT là chất lượng của sản phẩm (hay đầu ra) của quy trình kiểm toán (bao gồm báo cáo kiểm toán và BCTC đã được kiểm toán).
Trong đó, chất lượng đầu ra của kiểm toán được đo lường thông qua các đại diện: Khả năng phát hiện sai sót trọng yếu; Thông điệp qua ý kiến của KTV (đo lường trực tiếp); hay Chất lượng của BCTC; và Nhận thức của người sử dụng (đo lường gián tiếp). 13 CLKT với đầu ra kiểm toán PHÂN NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN TÍCH CLKT với TƯƠNG các đặc QUAN điểm công ty kiểm toán Theo thuộc tính công ty kiểm toán và KTV Theo yếu tố cấu thành chất lượng PHÂN quy trình TÍCH NHÂN Theo yếu tố cấu TỐ thành chất lượng dịch vụ Theo yếu tố cấu thành chất lượng hoạt động Hình 1.2 - Sơ đồ các hướng nghiên cứu chính về CLKT Nguồn: Do tác giả phát triển § Đo lường CLKT dựa trên khả năng phát hiện sai sót trọng yếu Hướng nghiên cứu này dựa trên giả thuyết cho rằng CLKT có mối quan hệ cùng chiều với khả năng phát hiện sai sót trọng yếu của KTV. Hai trường hợp, BCTC trình bày lại và AAERs (Accounting and Auditing Enforcement Releases) thường được sử dụng làm đại diện. BCTC trình bày lại là trường hợp BCTC buộc phải điều chỉnh những sai sót sau khi đã phát hành.
Còn AAERs là các trường hợp bị nghiêm cấm, được ban hành trong Công báo thực thi Kế toán và Kiểm toán của SEC. 14 nghiên cứu tiêu biểu của hướng này như: Dechow et al. Hai đại diện, BCTC trình bày lại và AAERs đo lường được trực tiếp chất lượng đầu ra vì chúng là những bằng chứng mạnh mẽ cho một CLKT kém (DeFond and Zhang, 2014). Nhưng có hạn chế là do các trường hợp BCTC trình bày lại và AAERs là tương đối hiếm, điều này làm giảm ý nghĩa thống kê và thiếu tính thực tế của kết quả nghiên cứu do cỡ mẫu quá nhỏ1.
Ngoài ra, khi không xảy ra trường hợp BCTC trình bày lại hay các AAERs, thì không có nghĩa là cuộc kiểm toán đó có chất lượng cao. Bởi lẽ, một cuộc kiểm toán chất lượng thấp vẫn có thể ngăn chặn những lỗi đã bị phát hiện trong các trường hợp BCTC trình bày lại hay AAERs, nhưng không ngăn chặn được những sai phạm về các nguyên tắc kế toán (GAAP) về hành vi chi phối thu nhập (DeFond and Zhang, 2014). § Đo lường CLKT dựa trên thông điệp ý kiến của KTV Ý kiến kiểm toán là phương tiện truyền thông trực tiếp của KTV với người sử dụng BCTC về quy trình kiểm toán, và kết quả đầu ra của quy trình kiểm toán. Loại ý kiến kiểm toán “Going concern” (GC), truyền đạt đánh giá của KTV về nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng.
Hai trường hợp được sử dụng để đo lường chất lượng đầu ra, đó là: (1) Không đưa ra ý kiến GC khi có lý do xác đáng để đưa ra nó; và (2) Đưa ra ý kiến GC khi không có lý do xác đáng. Cả hai trường hợp này đều được xem là sai lầm của KTV, và đó là bằng chứng của một CLKT kém. Các nghiên cứu tiêu biểu như của Carcello and Palmrose (1994), Francis and Krishnan (2002), Kaplan and Williams (2012). Sử dụng đại diện ý kiến GC để đo lường CLKT là phương pháp đo lường trực tiếp CLKT.
Tuy nhiên, cũng giống như đại diện đo lường là BCTC trình bày lại và AAERs, ý kiến GC cũng rất ít được phát hành do đó đã làm giảm ý nghĩa của kết quả đo lường CLKT2. 1 Kết quả kiểm tra 436 AAERs đầu tiên (1982 -1993) của Dechow (1996), cho thấy trong khoảng 12 năm có 165 trường hợp mô tả KTV thiếu chất lượng, như vậy bình quân mỗi năm chỉ có 14 trường hợp. Kết quả điều tra 1. 15 § Đo lường CLKT qua chất lượng của BCTC Chất lượng BCTC (đã được kiểm toán) là một thành phần của CLKT.
Giả thuyết này dựa trên thực tế BCTC là sản phẩm chung của nhà quản lý và KTV (Magee and Tseng, 1990; Antle and Nalebuff, 1991). Vì vậy, mối liên hệ giữa CLKT và chất lượng BCTC là chặt chẽ và trực quan. Khi mà CLKT được xem là một sự đảm bảo cao hơn tính trung thực và hợp lý của BCTC, thì đo lường chất lượng BCTC là phương pháp thích hợp để đo lường CLKT. Chất lượng BCTC là một khái niệm khá rộng, các nhà nghiên cứu chủ yếu sử dụng thước đo hành vi chi phối thu nhập, để đo lường chất lượng BCTC.
Trong đó, phương pháp được sử dụng nhiều nhất, là dựa trên mô hình dồn tích bất thường của Jones (1991). Các nghiên cứu sử dụng phương pháp này như của: Becker et al. (1998); Francis et al. (1999); Zhou and Elder (2004); Chen et al.
(2011); Balsam et al. (2003); Krishnan (2003); Reichelt and Wang (2010); Chi et al. Ngoài ra, phương pháp phân tích tổng hợp (Meta-Analysis) được sử dụng để tổng hợp, phân tích và đánh giá các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa uỷ ban kiểm toán, CLKT và hành vi chi phối thu nhập trong nghiên cứu của Inaam and Khamoussi (2016). Mặc dù đo lường CLKT thông qua chất lượng BCTC, là phương pháp đo lường thích hợp để đo lường chất lượng đầu ra thực tế của quy trình kiểm toán.
Nhưng phương pháp này được cho là ít trực tiếp hơn so với phương pháp sử dụng đại diện là BCTC trình bày lại và GC, do ảnh hưởng của KTV đến chất lượng BCTC là hạn chế hơn.