chương 1, các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán rất đa dạng cho thấy các nhà nghiên cứu đã nỗ lực tìm kiếm các cách thức để đo lường chất lượng kiểm toán và đạt được những kết quả nhất định. Các nghiên cứu trong và ngoài nước được tổng hợp dựa vào các biến đưa vào mô hình. Dựa trên các quan điểm, khuynh hướng và phương pháp nghiên cứu, nhiều kết quả nghiên cứu về chất lượng kiểm toán đã được công bố và những kết quả đã đạt được của các nghiên cứu trước đây. Chúng ta thấy vẫn còn một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên tác động đến chất lượng kiểm toán.
Chương tiếp theo sẽ trình bày cơ sở lý thuyết nền, định nghĩa các khái niệm đạo đức nghề nghiệp kiểm toán viên và chất lượng kiểm toán. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm đạo đức Theo Wikipedia: Đạo đức là một từ Hán Việt, được dùng từ xa xưa để chỉ một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người. Đạo là con đường, đức là tính tốt hoặc những công trạng tạo nên. Khi nói một người có đạo đức là ý nói người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực và có nét đẹp trong đời sống và tâm hồn.
Trong tâm lý học: Đạo đức là hệ thống quy tắc chuẩn mực trong xã hội mà nhờ đó con người có thể tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xã hội.2 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp Liên đoàn Kế toán Quốc tế: “ Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc, giá trị, chuẩn mực hay quy tắc hành vi có tác dụng hướng dẫn các quyết định, quy trình và hệ thống của tổ chức theo cách có thể đóng góp phúc lợi cho những người hữu quan chính, và tôn trọng quyền của tất cả các cử tri hữu quan đối với hoạt động của thành viên hiệp hội”. Trong tài liệu International Good Practice Guidance: Defining and Developing an Effective Code of Conduct for Organizations (IFAC, 2007), có định nghĩa rõ: “Tiêu chuẩn hành nghề là những nguyên tắc, giá trị, chuẩn mực, hay quy tắc hành vi có tác dụng hướng dẫn các quyết định, quy trình và hệ thống của một tổ chức theo cách có thể đóng góp phúc lợi cho những người hữu quan chính, và tôn trọng quyền của tất cả cử tri hữu quan đối với các hoạt động của thành viên hiệp hội”. Trong các tổ chức nghề nghiệp, vi phạm tiêu chuẩn hành nghề có thể bị trừng phạt bằng cách loại bỏ tư cách thành viên của người vi phạm. Dựa vào nguyên tắc đạo đức và quan điểm của tổ chức mà nhà quản lý hoàn toàn có khả năng quyết định cái gì là đúng và cái gì là sai.
(Beigzad và cộng sự, 2010) 13 Theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Việt Nam (Thông tư 70/2015/TT- BTC) kiểm toán viên phải tuân thủ tư cách nghề nghiệp, chính trực, thận trọng và năng lực chuyên môn, khách quan, bảo mật. Tóm lại, đạo đức nghề nghiệp là trách nhiệm của người làm nghề trước xã hội và trước người khác là những quan điểm, quy tắc và chuẩn mực hành vi đạo đức xã hội đòi hỏi phải tuân theo trong hoạt động nghề nghiệp, có tính đặc trưng của nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp được thể hiện một cách đặc thù trong các hoạt động nghề nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với đạo đức cá nhân và thể hiện thông qua đạo đức cá nhân.3 Đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (Bộ Tài chính, 2012) người kiểm toán cần phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp sau: - Tính độc lập thể hiện ở các mặt: + Độc lập về kinh tế + Độc lập về tình cảm + Độc lập về chuyên môn - Tính chính trực: KTV phải đảm bảo thẳng thắn, trung thực và có chính kiến rõ ràng. - Tính khách quan: KTV phải công bằng, trung thực trong tư tưởng và không có xung đột lợi ích.
KTV phải nhìn nhận các sự kiện, hiện tượng đúng như nó vốn có, theo đúng bản chất của sự kiện, hiện tượng. - Tính thận trọng và năng lực chuyên môn: KTV phải có đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết với sự thận trọng cao nhất khi tiến hành kiểm toán. Bên cạnh đó KTV phải luôn cập nhật và nâng cao kiến thức trong môi trường pháp lý, hoạt động thực tiễn và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu của công việc. - Tính bảo mật: KTV không được tiết lộ bất cứ thông tin nào có được trong quá trình kiểm toán khi chưa được sự cho phép của người có thẩm quyền, trừ trường hợp được sự cho phép hay phải công khai theo quy định của pháp luật.
14 - Tư cách nghề nghiệp: KTV phải thường xuyên thể hiện tính chuyên nghiệp trong quá trình kiểm toán, đồng thời phải luôn luôn trau dồi, bảo vệ và nâng cao uy tín nghề nghiệp, tuyệt đối không được gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp. - Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn: KTV phải thực hiện theo những quy định của chuẩn mực chuyên môn đã được chấp nhận, quy định của hội nghề nghiệp và các quy định của pháp luật hiện hành. Các nguy cơ gây ảnh hưởng tới việc tuân thủ nguyên tắc đạo đức cơ bản: - Bị đe dọa. - Sự quen thuộc.
- Sự bào chữa. - Tự kiểm tra.4 Khái niệm chất lượng kiểm toán Có hai quan điểm chính về chất lượng kiểm toán độc lập nhằm đáp ứng nhu cầu của đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán cũng như khả năng phát hiện các báo cáo sai phạm tình hình của doanh nghiệp trên các BCTC được kiểm toán. - Thứ nhất, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng: Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 220 (ISA 220): “Chất lượng kiểm toán là mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán đồng thời thoả mãn về mong muốn có được những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước và giá phí thích hợp”. Như vậy, chất lượng kiểm toán được hiểu trên khía cạnh mức độ thỏa mãn của đối tượng sử dụng các BCTC : các quản lý trực tiếp đứng đầu doanh nghiệp, các doanh nghiệp được kiểm toán và cơ quan quản lý.
- Thứ hai, một cuộc kiểm toán có chất lượng phải thỏa mãn được nhu cầu về độ tin cậy, tính trung thực và hợp lý của các BCTC được kiểm toán, để từ đó nhà đầu tư đưa ra quyết định kinh tế đúng đắn, điều hành cho phù hợp. Trong hoạt động 15 kiểm toán tại các doanh nghiệp hiện nay, các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán được đánh giá thông qua mức độ thỏa mãn về tính khách quan và độ tin cậy từ phía các KTV có năng lực, trình độ chuyên môn, độc lập, minh bạch và có kinh nghiệm. Thật vậy, cơ sở của kiểm toán xuất phát từ nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính, họ cần được đảm bảo rằng các báo cáo tài chính mà họ được cung cấp có phản ánh trung thực và hợp lý hay không. Tính độc lập, khách quan trong báo cáo và việc tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán là điều kiện để họ tin tưởng vào ý kiến kiểm toán.
Do đó việc thoả mãn ở mức độ nào chính là thể hiện về chất lượng kiểm toán. Không giống như những ngành nghề khác, chất lượng kiểm toán không dễ dàng đánh giá, kiểm tra hay quan sát. Vì thế người sử dụng lại càng cần biết chất lượng kiểm toán bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào để có thể tin tưởng và sử dụng dịch vụ kiểm toán. Tiêu chuẩn đánh giá dựa trên các góc độ: - Người sử dụng thông tin có mức độ hài lòng như thế nào? - Lượng thông tin mà kiểm toán viên cho người sử dụng có đảm bảo cho trung thực hợp lý.
- Những sai sót trọng yếu nếu có để đơn vị sửa chữa và cải thiện được các kiểm toán viên đưa ra. - Báo cáo kiểm toán phải phát hành theo đúng thời gian với chi phí hợp lý.2 Lý thuyết ủy nhiệm 2.1 Nội dung lý thuyết Jensen và Meckling (1976) khẳng định mối quan hệ ủy nhiệm là một hợp đồng giữa bên ủy nhiệm cam kết với bên đại diện thay mặt họ thực hiện công việc nào đó thay cho bên đại diện. Bên ủy nhiệm (chủ sở hữu) thuê bên đại diện (nhà quản lý) thay mặt đưa ra các quyết định và kiểm soát nhằm mang lại lợi ích tối đa cho bên ủy nhiệm. Để hạn chế sự xung đột lợi ích kinh tế của hai bên một cơ chế thích hợp được sử dụng để ngăn ngừa hành vi tư lợi của bên đại diện.
Khi người chủ sở hữu thuê bên đại diện quản lý công ty sẽ xuất hiện xung đột lợi ích giữa người chủ và nhà quản lý. Xung đột lợi ích này bộc lộ rõ nhất ở các 16 công ty lớn (Gayle và Miller, 2009). Lý thuyết ủy nhiệm cho thấy có sự xung đột về mục tiêu giữa nhà quản lý và chủ sở hữu. Quản trị công ty tốt làm giảm tình trạng thông tin bất cân xứng giữa ban quản lý và cổ đông (Karamanou và Vafeas, 2005).
Nói một cách khác, thuyết ủy nhiệm quan tâm đến lợi ích của nhà quản lý và người chủ (Jensen và Meckling, 1976). Chi phí ủy nhiệm được sử dụng nhằm giảm xung đột lợi ích giữa bên ủy nhiệm và bên đại diện. Theo lý thuyết ủy nhiệm, mục đích chính của báo cáo tài chính là giám sát sự hiệu quả của những nhà quản lý (A Watson, P Shrives, 2002). Để giảm thiểu sự xung đột lợi ích này cần có báo cáo kiểm toán nhằm đánh giá lại tình hình hoạt động của công ty, mức độ làm việc hiệu quả của các nhà quản lý.2 Vận dụng vào mô hình Trong các công ty nhà quản lý có xu hướng cung cấp ít hoặc che giấu thông tin cho người chủ.
Như vậy, thông qua lý thuyết ủy nhiệm, sự xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và người đại diện có thể được hạn chế bằng cách công bố thông tin đầy đủ và trung thực. Để thực hiện được điều này, một vấn đề được đặt ra là xây dựng cơ chế giám sát những hành vi của nhà quản lý gây ra từ vấn đề xung đột lợi ích.