mở đầu trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu,. kết cấu của đề tài gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5: Kết luận và hạn chế của đề tài. Tài liệu tham khảo. Phụ lục 123doc 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 1.
Các nghiên cứu ngoài nƣớc Ảnh hƣởng của nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lƣợng kiểm toán luôn là chủ đề thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của các đối tƣợng sử dụng cũng nhƣ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Chƣơng này sẽ tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, nhằm có cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu về chủ đề này. Trên thế giới có một số nghiên cứu liên quan về chất lƣợng kiểm toán và nhiệm kỳ kiểm toán, dƣới đây là một vài nghiên cứu tiêu biểu: Johnson, V. Audit-firm tenure and the quality of financial reports.
Contemporary Accounting Research 19 (4): 637-660. Bài nghiên cứu tiến hành điều tra xem nhiệm kỳ công ty kiểm toán có ảnh hƣởng đến chất lƣợng báo cáo tài chính hay không, với đối tƣợng nghiên cứu là các tập đoàn bảo hiểm của Hoa Kỳ. Tác giả sử dụng hai thƣớc đo đại diện chất lƣợng báo cáo tài chính: giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích không mong đợi (unexpected accruals) và kết cấu khoản dồn tích về thu nhập (accrual components of earnings), với số lƣợng mẫu đƣợc sử dụng là 11.148 quan sát công ty công bố trên Compustat (đây là một cơ sở dữ liệu thông tin tài chính, thống kê và thị trƣờng cho toàn công ty trên thế giới) trong thời gian 10 năm (từ 1986-1995). Mô hình sử dụng để tính khoản dồn tích bất thƣờng là mô hình Jones 1991 đƣợc sửa đổi theo Jiambalvo (1994) và Subramanyam (1996), với công thức nhƣ sau: |UAIt| = TAit/Ait-1 = 1jt(1/Ait-1) + 2jt( [( REVit - ARit)/Ait-1] + 3jt(PPEit/Ait-1) + it Trong đó TA là tổng các khoản dồn tích, A: tổng tài sản, REV: tổng doanh thu bán hàng, AR: khoản phải thu, và PPE: tổng tài sản cố định.
Các hệ số 1jt, 2jt và 3jt là các thông số ƣớc tính dồn tích mong đợi sử dụng cho tất cả các công ty trong ngành công nghiệp thứ j (đƣợc xác định bởi hai chữ số mã SIC) và năm tài chính t. Sau đó, tác giả dựa vào mô hình hồi quy dƣới đây để kiểm tra các mối quan hệ giữa khoản dồn tích bất thƣờng và nhiệm kỳ kiểm toán: 123doc 7 |UAIt| = 0 + 1(OCFit/Ait-1) + 2LAit + 3LEVit + 4FCit + 5AGEit + 6SHORTit + 7LONGit + it Trong đó |UAIt|: giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích bất thƣờng của công ty i tại thời điểm t; OCFit: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i tại thời điểm t; Ait-1: tổng tài sản của công ty i tại thời điểm t – 1; LAit: logarit tổng tài sản của công ty i tại thời điểm t; LEVit: tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản của công ty i tại thời điểm t; FCit: Altman Z-score của công ty i tại thời điểm t; AGEit: số năm công ty i niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán tại thời điểm t; SHORTit: nhận giá trị là 1 nếu nhiệm kỳ công ty kiểm toán ngắn (2 hoặc 3 năm); nếu khác nhận giá trị là 0; LONGit: nhận giá trị là 1 nếu nhiệm kỳ công ty kiểm toán dài (9 năm trở lên); nếu khác nhận giá trị là 0. Mô hình sử dụng để kiểm tra các mối quan hệ giữa mức độ khoản dồn tích này tồn tại trong thu nhập của năm tiếp theo và nhiệm kỳ kiểm toán (Sloan, 1996): Eit+1/Ait-1 = 0+ 1(OCFit/Ait-1) + 2(TAit/Ait-1) + 3[(OCFit/Ait-1)*SHORTit] + 4[(OCFit/A i t - 1 )*LONGit] + 5[(TAit/Ait-1)*SHORTit] + 6[(TAit/Ait-1*LONGit + it-1 Trong đó: Eit+1 là thu nhập của công ty i trong năm t. Kết quả, họ thấy rằng nhiệm kỳ công ty kiểm toán trung bình (4 - 8 năm) và ngắn (2 - 3 năm) có liên quan đến chất lƣợng báo cáo tài chính thấp.
Tuy nhiên, không có bằng chứng để kết luận chất lƣợng báo cáo tài chính sẽ giảm đối với nhiệm kỳ nhiều hơn 9 năm. Kết quả nghiên cứu không thể khẳng định luân chuyển công ty kiểm toán với nhiệm kỳ dài có tác động xấu đến chất lƣợng báo cáo tài chính, nhƣng khẳng định nhiệm kỳ ngắn thì có ảnh hƣởng tích cực đến chất lƣợng báo cáo. Exploring the term of auditor-client relationship and the quality of earnings: A case for mandatory auditor rotation? The Accounting Review 78 (3): 779-799. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhiệm kỳ và chất lƣợng thu nhập thông qua hai giá trị tuyệt đối là: khoản dồn tích bất thƣờng (abnormal accrual) theo mô 123doc 8 hình Jones và khoản dồn tích ngắn hạn (current accrual) đại diện cho chất lƣợng thu nhập.
Nghiên cứu tập trung vào việc “luân chuyển kiểm toán bắt buộc”, với mối quan tâm là nhiệm kỳ kiểm toán càng dài sẽ làm giảm chất lƣợng thu nhập. Mẫu sử dụng của tác giả gồm tất cả công ty trong năm 1988 – 2000 trên Compustat vào năm 2001 và thêm ít nhất dữ liệu sáu năm trƣớc đó để đảm bảo rằng khoản dồn tích bất thƣờng có liên quan đến hoạt động của công ty (Teoh và cộng sự, 1998). Hai phƣơng pháp dồn tích đƣợc sử dụng trong bài nhƣ sau: Curent Accruals = [( CA - Cash) – ( CL - STD)] và Discretionary Accruals = Accruals – 0 + 1 Revenue + 1 PPE (mô hình Jones hiệu chỉnh). Mô hình chung với các biến kiểm soát đƣợc tác giả đã tổng hợp các biến từ các nghiên cứu trƣớc nhƣ sau: Accruals = α + β1Tenure + β2Age + β3Size + β4 IndGrw + β5CashFlow + β6AuditorType + β7 -69Industry + β1988 – 1999Year + Trong đó Accruals: khoản dồn tích tùy ý (discretionary accruals) hoặc dồn tích ngắn hạn (current accruals) đƣợc đo bằng tổng tài sản trung bình; Tenure: số năm liên tiếp công ty đƣợc kiểm toán; Age: số năm công bố thông tin trên Compustat từ năm 1980; Size: quy mô công ty, lấy logarit tổng tài sản; Industry Growth: tăng trƣởng công nghiệp, ∑ ⁄∑ ; Cash Flow: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, đƣợc đo bởi tổng tài sản trung bình; Auditor Type: biến giả bằng 1 nếu kiểm toán viên thuộc công ty Big 4 hoặc Big 5, không phải là 0; Industry: dựa trên hai chữ số mã SIC; Year: năm dƣơng lịch.
Đo lƣờng tất cả các biến bằng tổng tài sản bình quân. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy chất lƣợng thu nhập trên báo cáo sẽ cao hơn với nhiệm kỳ kiểm toán dài. Nhƣ vậy, các tác giả cho thấy rằng nhiệm kỳ kiểm toán không làm giảm chất lƣợng kiểm toán và chất lƣợng thu nhập. Tuy nhiên, cũng không thể kết luận là chất lƣợng thu nhập hoặc chất lƣợng kiểm toán sẽ đƣợc cải thiện nếu vẫn tiếp tục kiểm toán.
Khác với hai nghiên cứu trên khi quan tâm đến việc luân chuyển công ty 123doc 9 kiểm toán thì nghiên cứu của Chi, W. Discretionary accruals, audit-firm tenure, and audit-partner tenure: Empirical evidence from Taiwan. Journal of Contemporary Accounting & Economics, Vol. quan tâm hơn về việc luân chuyển kiểm toán viên.
Nghiên cứu này điều tra về tính hiệu quả của việc bắt buộc luân chuyển kiểm toán đối với chất lƣợng kiểm toán, dữ liệu đƣợc sử dụng là mẫu sơ bộ của 998 công ty tại Đài Loan trong năm 2002, và theo dõi các nhóm kiểm toán trong mẫu sơ bộ đƣợc lọc lại trong năm 2003 và 2004. Tác giả cũng sử dụng khoản dồn tích đại diện cho biến chất lƣợng kiểm toán (Johnson và cộng sự, 2002; Myers và cộng sự, 2003) với 2 trƣờng hợp là: dồn tích bất thƣờng (Jones, 1991) và dồn tích vốn lƣu động bất thƣờng (DeFond và Park, 2001). Khoản dồn tích đầu tiên là khoản dồn tích bất thƣờng (ABNACt) ƣớc tính các số dƣ từ mô hình Jones (1991) nhƣ sau: = + + + Với TACt: tổng số dự thu trong nửa đầu của năm t; t : thay đổi trong doanh thu bán hàng giữa nửa đầu của năm t và nửa đầu của năm t-1; t: thay đổi trong các khoản phải thu giữa nửa đầu của năm t và nửa đầu của năm t-1; PPEt: tổng số tiền lãi của tài sản, nhà máy và thiết bị vào cuối của nửa đầu năm t; và TAt-1: tổng tài sản vào cuối năm t-1. Khoản dồn tích thứ hai là khoản dồn tích vốn lƣu động bất thƣờng đại diện cho chất lƣợng kiểm toán (DeFond và Park, 2001): ( ) = Với WCt: vốn lƣu động không phải tiền trong nửa đầu của năm t = (Tài sản lƣu động - tiền và đầu tƣ ngắn hạn) - (nợ ngắn hạn - nợ vay ngắn hạn); SALESt: doanh thu bán hàng trong nửa đầu của năm t; TAt-1: tổng tài sản vào cuối năm t-1.
Để kiểm tra sự hiệu quả của luân chuyển kiểm toán bắt buộc đối với chất lƣợng kiểm toán, tác giả sử dụng mô hình hồi quy dƣới đây theo Myers và cộng sự (2003): 123doc 10 Acc = α + β1BMK + β2Age + β3Size + β4IndGrw + β5CFO + β6Big4 +ε Với Acc: khoản dồn tích vốn lƣu động bất thƣờng (AWCAt), đƣợc đo bằng giá trị tuyệt đối; BMK: biến giả bằng 1 nếu quan sát thuộc mẫu chuẩn, bằng 0 nếu là mẫu luân chuyển bắt buộc, Age: số năm từ khi công ty niêm yết; Size: logarit của tổng tài sản vào cuối nửa đầu năm t; IndGrw: tăng trƣởng ngành công nghiệp = ∑ ⁄∑ ; CFO: dòng tiền hoạt động kinh doanh từ báo cáo lƣu chuyển tiền tệ trong nửa đầu của năm t, chia cho tổng tài sản vào cuối của nửa đầu năm t-1; Big4: biến giả bằng 1 nếu kiểm toán viên thuộc công ty Big N, không phải nhận giá trị là 0. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thứ nhất, chất lƣợng kiểm toán của các công ty bắt buộc luân chuyển kiểm toán cao hơn so với chất lƣợng kiểm toán của các công ty không bị bắt buộc luân chuyển trong năm 2004. Thứ hai, đối với các công ty có kiểm toán đƣợc luân chuyển bắt buộc trong năm 2004, có chất lƣợng kiểm toán thấp hơn so một năm trƣớc đây với các công ty kiểm toán cũ. Thứ ba, chất lƣợng của các công ty luân chuyển kiểm toán bắt buộc trong năm 2004 là không thể phân biệt đƣợc so với các công ty kiểm toán mà các cộng sự đã luân chuyển tự nguyện trong những năm trƣớc năm 2003.
Ngoài ra, nghiên cứu của Carey, P. Audit partner tenure and audit quality. The Accounting Review, Vol. còn đƣa ra nhiều hƣớng để xem xét mối quan hệ giữa nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lƣợng kiểm toán.