CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, trong đó có các nhà nghiên cứu ở Việt Nam. Mục đích thực hiện các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng và của tác giả là tìm ra những nhân tố tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL, qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL và đáp ứng kỳ vọng của xã hội. Các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ KTĐL được tác giả chia thành hai nhóm: (i) các nghiên cứu công bố ở nước ngoài; và (ii) các nghiên cứu công bố trong nước: 1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài 1.1 Nhóm nghiên cứu về chất lượng dịch vụ KTĐL [1] Chadegani (2011)6: “Review of studies on audit quality”. Nghiên cứu của Chadegani (2011) tạm dịch là: “Tổng hợp các dòng nghiên cứu về chất lượng dịch vụ kiểm toán”.
Bài viết tổng hợp lại các nghiên cứu thực nghiệm trong những thập niên vừa qua trên thế giới nhằm đánh giá những gì các nhà nghiên cứu đã thực hiện được về vấn đề chất lượng kiểm toán và phát hiện lỗ hổng trong các tài liệu nghiên cứu. Những nghiên cứu được phân loại thành 07 nhóm: (1) Sử dụng công cụ đo lường trực tiếp (sự phù hợp của BCTC với Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận (GAAP - Generally Accepted Accounting Principles), hay ý kiến về khả năng hoạt động liên tục, hoặc sự phá sản) hoặc gián tiếp (quy mô, danh tiếng, nhiệm kỳ, phí dịch vụ, khả năng chuyên môn hóa) chất lượng kiểm toán; (2) Các nghiên cứu dựa trên nguồn gốc của sự khác biệt về thể chế giữa các quốc gia, khác biệt thực hành giữa các cá nhân và khác biệt do chuyên môn hóa; (3) Các nghiên cứu dựa trên kết quả đầu ra (output) (ý kiến kiểm toán), quá trình thực hiện (process) (môi trường kiểm toán, quá trình thực hiện, dự đoán doanh thu và quản trị doanh thu) và dữ liệu đầu vào (input) (nhận thức của KTV và đấu thầu kiểm toán bắt buộc); (4) Các khía cạnh của tổ chức (công ty và đội ngũ kiểm toán); 6 Aghaei Chadegani, A. Review of studies on audit quality. 2011 International Conference on Humanities, Society and Culture 7 (5) Quan điểm hành vi và chất lượng kiểm toán (giảm chất lượng kiểm toán, lý luận đạo đức, mối quan hệ và quan điểm hành vi, đạo đức của KTV, vốn con người, chất lượng dịch vụ, chất lượng kỹ thuật, danh tiếng, kinh nghiệm, năng lực, độc lập); (6) Các nhận thức khác nhau về chất lượng kiểm toán (nhận thức của cổ đông, KTV, các nhà phân tích và chủ tịch ủy ban kiểm toán, khách hàng, thanh tra liên bảng và các nhà báo kinh tế); và (7) Các dòng nghiên cứu khác.
[2] Hoa Pham và cộng sự (2014)7: “A Study of audit quality in Vietnam”. Nghiên cứu của Pham Hoa và cộng sự (2014) tạm dịch là: “Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam”. Nghiên cứu nhằm mục đích kiểm tra nhận thức của đội ngũ KTV về chất lượng kiểm toán và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam. Thông qua khảo sát ở 10 CTKT khác nhau, tác giả thu về được 128 bảng trả lời từ đội ngũ nhân viên kiểm toán.
Kết quả khảo sát cho thấy có mối tương quan tích cực giữa quy mô CTKT và KTV chuyên nghiệp với chất lượng kiểm toán. Ngoài ra, việc đấu thầu cạnh tranh (competitive bidding) để tham gia kiểm toán và dịch vụ phi kiểm toán bổ sung cũng ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán. Thêm vào đó, nhóm tác giả còn chỉ ra rằng những KTV không tham gia thỏa thuận kiểm toán dài hạn (long-term audit engagement) thì đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán kém hơn so với những KTV tham gia thỏa thuận kiểm toán dài hạn. Cuối cùng, nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng doanh thu của nhân viên và công việc trước đây với khách hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng kiểm toán tại Việt Nam.
Nghiên cứu đề xuất mở rộng đối tượng khảo sát là những người quản lý, điều hành và người sử dụng báo cáo, cũng như thêm biến tính cạnh tranh về năng lực của các CTKT để đánh giá toàn diện hơn chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam.2 Nhóm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL Nhân tố Quy mô CTKT DeAngelo (1981b)8: “Audit size and Audit quality”. Nghiên cứu của DeAngelo (1981b) tạm dịch là: “Quy mô công ty kiểm toán và chất lượng kiểm toán”. Theo 7 Hoa Pham et al. “A Study of audit quality in Vietnam”, International Journal of Business, Accounting and Finance, Volume 8, Number 2, Fall 2014 8 DeAngelo, L.
Auditor size and audit quality. Journal of accounting and economics, 3(3), 183-199. 8 DeAngelo, để tồn tại và phát triển CTKT phải nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL. Tuy nhiên, khi phát triển cần nhắc đến biên độ tăng thêm (quasi-rents), đó là áp lực kinh tế khiến cho CTKT cân nhắc đến việc cân bằng chất lượng dịch vụ KTĐL.
Cụ thể, CTKT phải xem xét đến việc: (i) có được một đơn vị biên độ tăng thêm từ một khách hàng cụ thể (do CTKT cố tình giảm chất lượng dịch vụ KTĐL để duy trì khách hàng); và (ii) dòng các đơn vị biên độ tăng thêm từ nhiều khách hàng khác có thể bị mất khi những hành vi cố tình làm giảm chất lượng dịch vụ KTĐL của CTKT bị công chúng phát hiện. Nói cách khác, CTKT nào có càng nhiều khách hàng (số lượng khách hàng là một trong những tiêu chí đánh giá quy mô của CTKT) thì càng có khả năng bị mất càng nhiều biên độ tăng thêm trong trường hợp những sai phạm của KTV bị phát hiện. Như vậy, quy mô (số lượng khách hàng) của CTKT càng lớn thì họ càng bị áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL. Nhân tố Phí dịch vụ kiểm toán DeAngelo (1981a)9: “Auditor independence, ‘low balling’, and disclosure regulation”.
Nghiên cứu của DeAngelo (1981a) tạm dịch là: “Tính độc lập của kiểm toán viên, mức phí thấp và quy định về công bố thông tin”. Nghiên cứu đã thiết lập mô hình phí kiểm toán năm đầu tiên (chi phí khởi động kiểm toán - start-up cost) với chi phí phát sinh liên quan đến việc thay đổi CTKT của đơn vị được kiểm toán. Theo mô hình này thì phí dịch vụ kiểm toán năm đầu tiên sẽ là: A1 = A + K (với A là chi phí kiểm toán; K là chi phí bắt đầu năm 1), các năm sau sẽ là A2 = A,…, An = A. Như vậy, mức phí của KTV đương nhiệm sẽ có lợi hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong tương lai của cùng một khách hàng nhất định.
Đứng về góc độ quản lý thì các nhà quản lý và chuyên gia cho rằng với mức phí thấp sẽ làm giảm tính độc lập của KTV. Tuy nhiên, trái ngược với những nhận định trên, DeAngle cho rằng phí dịch vụ kiểm toán thấp là một phản ứng cạnh tranh với mức phí kiểm toán trong tương lai của đối thủ cạnh tranh, và tự nó không làm giảm tính độc lập của KTV. Nhân tố Phí dịch vụ kiểm toán bất thường Choi và cộng sự (2009)10: “Do abnormally high audit fees impair Audit Quality?”. Nghiên cứu của Choi và cộng sự (2009) tạm dịch là: “Phí dịch vụ kiểm toán bất thường làm giảm chất lượng kiểm toán?”.
Nghiên cứu biểu diễn mối tương 9 DeAngelo, L. Auditor independence,‘low balling’, and disclosure regulation. Journal of accounting and Economics, 3(2), 113-127. Do abnormally high audit fees impair audit quality?.
Auditing: A Journal of Practice & Theory, 29(2), 115-140. 9 quan tuyến tính giữa phí dịch vụ kiểm toán bất thường và chất lượng kiểm toán. Trong đó, chất lượng kiểm toán được đo lường bằng các khoản dồn tích (DA), cụ thể qua hai mô hình: (1) mô hình của Ball và Shivakumar (2006); và (2) mô hình của Jone (Kothari, Leone và Wasley, 2005). Trong khi đó, dữ liệu về phí dịch vụ kiểm toán và phi kiểm toán được các tác giả thu thập từ dữ liệu công nghiệp hàng năm (Compustat Industrial Annual File) gồm 9.815 công ty trong gian đoạn từ năm 2000 đến năm 2003.
Các kết quả hồi quy của nghiên cứu khẳng định phí dịch vụ bất thường tác động tiêu cực đến chất lượng kiểm toán. Cuối cùng, nhóm tác giả đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo về mối quan hệ phi tuyến tính giữa phí dịch vụ kiểm toán bất thường và chất lượng kiểm toán. Nhân tố Phí dịch vụ phi kiểm toán DeFond và cộng sự (2002)11: “Do Non–Audit Service Fees Impair Auditor Independence - Evidence from Going Concern Audit Opinions”. Nghiên cứu của DeFond và cộng sự (2002) tạm dịch là: “Phí dịch vụ phi kiểm toán làm giảm tính độc lập – Bằng chứng từ ý kiến hoạt động liên tục của kiểm toán viên”.
Nghiên cứu này được thực hiện sau sự sụp đổ của tập đoàn dầu khí Enron, thông qua việc sử dụng dữ liệu thứ cấp trên trang dữ liệu Edgar Online. Đằng sau sự sụp đổ của tập đoàn dầu khí Enron là sự tiếp tay của CTKT Arthur Andersen cho những sai phạm về kế toán, kiểm toán tại Enron. Nguyên nhân chính của sự sai phạm này là do Andersen đã nhận hợp đồng tư vấn dịch vụ cho Enron, mà phí dịch vụ này tỷ lệ cao trong doanh thu của Andersen, điều đó đã làm giảm tính độc lập của CTKT Andersen. Chính vì những sai phạm đã xảy ra nên những nhà quản lý đã có những hành động để hạn chế các CTKT cung cấp dịch vụ phi kiểm toán cho cùng một khách hàng.
Trái với những lo ngại của những nhà quản lý, nghiên cứu đã không tìm thấy mối quan hệ giữa phí dịch vụ phi kiểm toán và khuynh hướng KTV đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng. Thêm vào đó, nhóm tác giả cũng không tìm thấy mối quan hệ giữa phí dịch vụ kiểm toán và khuynh hướng KTV đưa ra ý kiến về tính hoạt động liên tục. Nghiên cứu đề xuất khuyến khích cơ chế thị trường cạnh tranh (chẳng hạn như việc sợ mất uy tín, chi phí kiện tụng) sẽ thúc đẩy tính độc lập của các CTKT. Do non-audit service fees impair auditor independence? Evidence from going concern audit opinions.
Journal of accounting research, 1247- 1274. 10 Nhân tố Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán Lennox (1998)12: “Audit Quality and Auditor Switching - Some Lessons for Policy Makers”. Nghiên cứu của Lennox (1998) tạm dịch là “Chất lượng kiểm toán và luân chuyển kiểm toán – Bài học từ xây dựng chính sách”.